Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

CẢM NHẬN CA TỪ MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN CỦA CỐ NHẠC SĨ HỌA SĨ THI SĨ VĂN CAO




Trên thảo nguyên mênh mông của thơ ca, nhạc, họa . Ta có thể thấy, có thể gặp, ở  bất kỳ nhà thơ, nhạc sĩ hay họa sĩ nào đều có tác phẩm viết, vẽ  về mùa xuân.

Thường thì bản thân  nhạc sĩ đã là một nhà thơ. Nhưng là nhà thơ thì chưa phải là nhạc sĩ. Một bản nhạc, một bài thơ thì có thể cho người đọc cảm nhận một bức tranh trong đó, nhưng một bức tranh thì người ngắm thông thường không thể cảm nhận thấy một bài thơ, hay bản nhạc trong đó.

Tôi nói dông dài vậy, bởi thông thường thì  cả ba  nghề gắn trước chữ SĨ : Họa sĩ, Nhạc sĩ và Thi sĩ luôn có sự gắn bó tương quan hỗ trợ nhau bằng cách này hay cách khác. Nhưng thật hiếm khi một người có thể đạt được cả ba điều.

Nhưng, bất kỳ điều gì đều có ngoại lệ của nó, và Văn Cao (1923-1995) là một người mà ta có thể gọi

Nhạc sĩ Văn Cao

Thi sĩ Văn Cao

Họa sĩ Văn Cao

Đều đúng cả. Điều  đặc biệt dù với tên gọi nào thì tác phẩm của ông đều nổi tiếng.

 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của ông không bằng phẳng, mượt mà, đẹp đẽ  như thơ, nhạc, tranh  của ông.

Khi làm họa sĩ, tranh của ông được báo chí trong, ngoài nước khen ngợi. Song ông vẫn phải đứng bán những đứa con tinh thần của mình, ở lề đường, khắp thành phố Hải Phòng hay Hà Nội. Kiếm từng đồng để mưu sinh trong nghèo khó.

Thời gian này ông cũng là một thi sĩ .Thơ của ông vẫn sống mãi tới bây giờ. Một vài bài thơ tiêu biểu ta có thể  biết đến: “Năm Buổi Sáng Không Có Trong Sự Thật”, “Một Đêm Đàn Lạnh Trên Sông Huế” hay Ai Về Kinh Bắc….

Và rồi Bản nhạc đầu tay Buồn Tàn Thu ra đời  năm 1939, cột mốc chính thức đưa tên Văn Cao dần trở thành  một trong những nhạc sĩ tên tuổi của nền tân nhạc Việt Nam. Nhưng ông cũng chưa thể sống bằng thơ, nhạc của mình.Theo lời ông thì mãi tới năm 1976 ông lần đầu tiên  mới nhận được 100rup tiền nhuận bút của bản nhạc Mùa Xuân Đầu Tiên được xuất bản ở Liên Xô…



Theo dòng trôi của cuộc đời cũng như thời cuộc. Sau năm 1954 ông ít viết, làm thơ hay vẽ…suốt từ năm 1958 tới cuối năm 1975 ông đã khai sinh một tác phẩm âm nhạc mà mãi gần đây mới được phổ biến. Đó là bản Mùa Xuân Đầu Tiên. Tác phẩm này như là  lời tiên tri của ông vậy. Lần đầu tiên một mùa xuân thanh bình trên khắp dải đất hình chữ S.Những điều nhỏ nhặt, những ước mong bình thường nhất cũng lần đầu tiên được hiện diện. Lần đầu tiên ông có tiền nhuận bút. Sau bao nhiêu thăng trầm của ca khúc thì cuối cùng nó cũng được chính thức phổ biến.

Giai điệu dìu dặt, nhẹ nhàng của ca khúc cùng đi với ca từ là những câu thơ mượt mà nhưng không kém phần sâu nặng .



Mùa Xuân Đầu Tiên



Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về

mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.
Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
Niềm vui phút giây như đang long lanh.
ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người .
Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông. (Văn Cao)



Ca khúc Mùa Xuân Đầu Tiên ra đời cuối năm 1975  khi non sông nối liền một dải, chiến tranh chấm dứt trên khắp mọi miền đất nước. Mùa Xuân Đầu Tiên êm ấm, thanh bình của cả dân tộc. cũng như  cuộc đời sóng gió của chính tác giả (khi viết ca khúc này Văn Cao đã 53 tuổi)  

Giờ đây ta hãy cùng hòa nhịp với trái tim của người nhạc sĩ, nhà thơ, họa sĩ  đã 53 tuổi, xem ông cảm nhận những gì khi Mùa Xuân đến, mà với ông đây là Mùa Xuân Đầu Tiên. Qua những ca từ ông viết giành cho bản nhạc này:

Mở đầu ca khúc là hai câu rất nhẹ nhàng được kết thúc bằng hai từ “về”, ông dùng để diễn tả mùa xuân về:



Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về

mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên



Với ông, lúc này có lẽ một cánh én trên không. Cũng đủ để thấy mùa xuân rồi. Cánh Én luôn là biểu tượng của mùa xuân, thấy én về là biết “mùa xuân theo” sau. Ở đây trong ông là “mùa vui nay đã về” mặc dù chỉ là “mùa bình thường”. Nhưng có lẽ  còn có niềm vui hòa bình nên mặc dù chưa thấy, mai đào, chưa thấy pháo nổ đì đùng (thời đó chưa cấm pháo) thì mặc nhiên chỉ một hình ảnh “én về” là đủ với ông và có lẽ rất nhiều người căm ghét chiến tranh nữa. đã quá đủ cho một “mùa vui”. Là “mùa xuân mơ ước…đầu tiên” không còn bom rơi, đạn nổ, không còn cảnh chết chóc nữa. Mùa xuân mơ ước ấy không chỉ là mơ ước của riêng ông, mà nó là mơ ước của cả dân tộc , hôm nay khi mà: “ Mùa xuân đang đến đầu tiên”..

Khi cảm nhận được “mùa Xuân mơ ước “ ông thấy ngay cảnh làng quê thanh bình :



Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên song
một trưa nắng cho bao tâm hồn.

Hai câu vừa như tả cảnh làng quê ven sông với tiếng gà gáy trưa, với những làn khói trắng từ những mái bếp đang lan tỏa. Những âm thanh và hình ảnh ấy  khi chiến tranh, thì có “mơ ước”cũng không có dịp chiêm ngưỡng và nghe thấy. Nó đã bị tiếng súng tiếng bom và khói thuốc súng che lấp mất. Nay quê hương hòa bình rồi, thì những âm thanh hình ảnh ấy mới rõ nét cho người nhìn chiêm ngưỡng khi Xuân về.

Phải chăng còn một ẩn ý nữa vì mùa Xuân luôn luôn về sau một mùa đông lạnh giá. Ai cũng khát khao ánh nắng Xuân  ấm áp , nhưng cũng phải tới buổi trưa giá lạnh mới tan hẳn và lúc này mới thật sự là “một trưa nắng cho bao tâm hồn”.

Mùa Xuân Đầu tiên vẫn đang ngân vang :



Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Người mẹ nhìn đàn con nay đã về

Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh

Niềm vui phút giây như đang long lanh.



Mùa Xuân về theo những cánh én, mùa xuân cũng là mùa đoàn tụ xum họp của những người đi xa. Đi chiến đấu, đi làm nhiệm vụ công tác hay mưu sinh xa nhà. Tất cả đều có mơ  ước ngày xuân sum họp bên gia đình. Vào thời điểm cuối  năm 1975  những người lính xa nhà trở về sum họp với gia đình, sau nhiều năm ở chiến trường không tin tức, hẳn  không có niềm hạnh phúc nào bằng. Hình ảnh “giọt nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh” quả thật  là hình ảnh đẹp theo rất nhiều nghĩa, mặc dù là “giọt nước mắt” nhưng là giọt nước mắt hạnh phúc và là “Niềm vui phút giây như long lanh”. Cũng chính những giọt nước mắt ấy “sưởi ấm đôi vai anh”

Hình ảnh “Người mẹ nhìn đàn con nay đã về” ngoài nghĩa là những bà mẹ của các anh lính , còn là hình ảnh Bà Mẹ Việt Nam “nhìn đàn con nay đã về”.

Tác giả kết luận đó là những điều mà những mùa xuân trước đây, có lẽ từ khi tác giả còn nhỏ thì chưa có một mùa xuân nào như xuân này. “Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên”.

Khi đã cảm nhận thực sự là mùa xuân mơ ước đã về rồi thì nỗi lòng, niềm mong mỏi hạnh phúc, tất cả hòa quyện cất lên :


ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.

Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người .



Trong tất cả chuỗi cảm nhận về Mùa Xuân Đầu Tiên thì có lẽ bao nhiêu tình cảm tình yêu quê hương, yêu con người được tác giả gửi gắm rất nhiều vào những ca từ này.

Hai cụm tán thán từ “ôi giờ phút” mà có lẽ là giờ phút tác giả cảm nhận thấy xuân về dặt dìu theo sau cánh én. Tác giả thấy “yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên” đó là tình cảm chung và một tình cảm riêng song hành bên cạnh nữa đó là “trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm”.

 Ở tuổi 53 bây giờ ông mới cảm nhận được cuộc đời êm ấm trong tay.

 Đây cũng là câu duy nhất trong tất cả các câu trong ca khúc này được kết thúc bằng vần trắc.

Và rồi tác giả bắt đầu nghĩ cho mọi người, trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ thì ai cũng dễ dàng nhận biết rằng “từ đây người biết quê người” là giành cho những người con miền nam ra bắc tập kết, giờ mới có dịp trở lại quê hương của mình.

“Từ đây người biết thương người/ Từ đây người biết yêu người”. có lẽ giành cho những người lính nơi chiến trường của hai chiến tuyến, cùng máu đỏ da vàng nhưng họ phải cầm súng chĩa vào nhau, nay thì hết rồi cảnh ấy không còn nữa. Chiến tranh kết thúc mọi điều tốt đẹp sẽ đến cùng mùa xuân mới…

Và khúc ca kết thúc bằng:



Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.

Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên song
một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.



Vẫn là những dấu hiệu cho thấy mùa xuân đã về. Nhưng từ trước tới nay, hay nói đúng ra trong cuộc đời tác giả thì mùa xuân này  “xưa nay mơ ước” nhưng nó “có về đâu, và bây giờ mới thấy “mùa vui nay đã về” .

Mùa vui chỉ “với khói bay trên sông, gà gáy trưa bên song”. Hình ảnh và âm thanh của buổi trưa mùa xuân ấy, được tác giả kết luận rằng :Nó chỉ là “một trưa nắng thôi”. Nhưng “hôm nay mênh mông”. Cái sự cảm nhận mênh mông của tác giả khi kết thúc lại mở ra một tương lai rộng lớn. Vượt ra khỏi không gian và thời gian, của một làng quê thanh bình, trong một buổi trưa xuân tràn đầy nắng ấm.

Mùa Xuân Đầu Tiên của Nhạc sĩ, Họa sĩ Thi sĩ tài hoa Văn Cao với suy nghĩ của tôi là vậy đó. Có thể với tuổi đời và vốn sống của mình còn hạn hẹp tôi chưa thể cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của ca từ bài hát này, song với tình yêu vô bờ giành cho một người nghệ sĩ tài hoa mà tôi quý trọng . Tôi xin được viết và đã viết hết mình về Mùa Xuân Đầu Tiên của ông, như một nén tâm nhang gửi đến ông nhân dịp xuân về tết đến.



Sài Gòn mùng 2 tết  Giáp Ngọ

Huỳnh Xuân Sơn

Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

CẢM NHẬN BÀI THƠ THỊ MẦU CỦA TÁC GIẢ ANH NGỌC








Tôi có may mắn khi được sinh ra và lớn lên trên quê hương của những làn điệu Chèo. Tân Yên là nơi Gánh Chèo Làng Hạ nổi tiếng xưa nay. Và, rất nhiều làng xã quê tôi có gánh chèo,làng tôi cũng không ngoại lệ.
Ngày bé cứ tối đến xong việc nhà và việc học là lũ trẻ con trong xóm lại được ra sân kho, hay nhà một cô chú diễn viên nào đó để xem tập chèo. Những vở chèo cổ như Lưu Bình Dương lễ, Nghêu Sò Ốc Hến, đặc biệt là vở Thị Mầu Lên Chùa là tôi nhớ nhất. Cô nào được đóng vai Tiểu Kính Tâm là tụi tôi rất quí, gặp mặt trên đồng từ xa đã chào, cô nào đóng vai Thị Mầu là tụi tôi ghét lắm. Có bạn còn bị ăn roi vì gặp người lớn không chào hỏi, cũng chỉ vì cô ấy đóng vai Thị Mầu bị ghét.

Kỷ niệm tuổi thơ với những suy nghĩ tức cười như vậy cứ theo tôi cùng năm tháng tới lúc lớn khôn. Không biết các bạn tôi ngày ấy ra sao? Chứ tôi sau này không còn thấy ghét Thị Mầu nữa, tôi đã biết yêu, biết cảm thông cho Thị Mầu. 

Nhiều lúc tôi đã quên đi nhân vật Thị Mầu trong truyền thuyết.Còn các cô các bà đóng vai Thị Mầu ngày trước, nay đều đã già ,người còn người mất và gánh Chèo làng tôi cũng tan rã khá lâu rồi!

Bất ngờ ,hôm nay trên Tho.com.vn, tôi gặp bài thơ Thị Mầu của Tác giả Anh Ngọc. bao nhiêu suy nghĩ, trở trăn về nhân vật Thị Mầu, người mà có lẽ rất nhiều người ghét. Riêng tôi, tôi lại muốn viết một chút cảm nhận về bài thơ này. Như một lời chuộc lỗi vì ngày trước tôi đã ghét cay ghét đắng Thị Mầu.

Thị Mầu

Người mấy trăm năm làm rung chuyển những sân đình
Làm điên đảo những phông màn khép mở
Người táo bạo
Người không hề biết sợ
Người chưa từng lùi bước trước tình yêu

Người phá tung khuôn khổ những điệu chèo
Để cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng
Người trung thực đến không cần giấu giếm
Cặp môi hồng con mắt ướt đong đưa

Người cả gan sàm sỡ cả cửa chùa
Chọn sắc áo cà sa mà chọc ghẹo
Thừa sinh lực nên người luôn túng thiếu
Nên hương trầm tiếng mõ khéo trêu ngươi

Người đi qua nghiêng ngả những trận cười
Chấp tất cả lời ong ve mai mỉa
Người chịu hết mọi thói đời độc địa
Chiếc quạt màu khép mở vẫn ung dung

Trên môi người câu hát cứ trẻ trung
Từng sợi tóc cũng rung theo nhịp phách
Mùi táo chín, mùi hương, mùi da thịt
Người đi qua sân khấu tới đời thường

Người sống trong hơi thở của nhân dân
Mấy trăm năm ai để thương để giận
Câu sa lệch cũng hò reo nổi loạn
Nhịp trống gầm lên những khát vọng không lời

Những khát vọng nằm sâu trong mỗi trái tim người
Được sống đúng với lòng mình thực chất
Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức
Mấy trăm năm không khóa nổi Thị Màu

Những cánh màn đã khép lại đằng sau
Táo vẫn rụng sân đình không ai nhặt
Bao Thị Màu đã trở về đời thực
Vị táo còn chua mãi ở đầu môi _(Anh Ngọc)

Một bài thơ tự do dài, với những câu từ chắt lọc kỹ càng. Miêu tả nhân vật Thị Mầu trong làn điệu chèo cổ. Thị Mầu từ xa xưa tới nay đều là nhân vật phản diện, người đóng vai Thị Mầu là Đào lẳng…Tác giả thông qua bài thơ đã dùng phương pháp ẩn dụ từ nhân vật Thị Mầu liên tưởng tới các thiếu nữ xưa nay thật tài tình.Thị Mầu được bắt đầu bằng:

Người mấy trăm năm làm rung chuyển những sân đình
Làm điên đảo những phông màn khép mở
Người táo bạo
Người không hề biết sợ
Người chưa từng lùi bước trước tình yêu


Năm câu thơ với độ dài câu chữ khác nhau. Tác giả dùng tới bốn chữ Người và một loạt các động từ như “rung chuyển”, “khép, mở” “sợ” và “lùi bước”. thêm các trạng từ như “”điên đảo” rồi “táo bạo” . để giới thiệu một nhân vật có từ “mấy trăm năm” và luôn luôn làm “rung chuyển những sân đình” . Tại sao? Có lẽ bởi Thị Mầu luôn là nhân vật chính mà bất kỳ già trẻ gái trai, đều rất thích xem, mặc dù ai cũng rất ghét. Mỗi khi Thị Mầu bước ra là tiếng la hét tiếng vỗ tay rần rần làm “rung chuyển” cả “sân đình” ngày trước, Và làm náo động những sân khấu hiện đại bây giờ.
Phải chăng từ “rung chuyển” ở đây còn có ý muốn nói đến sự nổi loạn của Thị Mầu đi ngược lại với những luật lệ đạo đức cổ truyền từ xa xưa của người con gái phương đông,trong xã hội phong kiến nho giáo.

Nhân vật ấy đi ra từ “phông màn khép mở”. Nhưng sống mãi trong lòng người đến hôm nay. Nhân vật ấy không chỉ có vậy . Tác giả viết tiếp:

Người phá tung khuôn khổ những điệu chèo
Để cuộc sống ùa lên đầu cửa miệng
Người trung thực đến không cần giấu giếm
Cặp môi hồng con mắt ướt đong đưa

Người cả gan sàm sỡ cả cửa chùa
Chọn sắc áo cà sa mà chọc ghẹo
Thừa sinh lực nên người luôn túng thiếu
Nên hương trầm tiếng mõ khéo trêu ngươi

Người đi qua nghiêng ngả những trận cười
Chấp tất cả lời ong ve mai mỉa
Người chịu hết mọi thói đời độc địa
Chiếc quạt màu khép mở vẫn ung dung


Ba khổ thơ tác giả khắc họa bản tính lẳng lơ, trắc nết của Thị Mầu.
Ai cũng nhận thấy ngay và xót xa khi thấy nỗi oan của Thị Kính lúc cắt râu chồng.
Rồi bao người nức nở khi thấy Thị Kính bị mẹ chồng (Sùng Bà) đối xử cay nghiệt. Và có mấy ai hiểu được nỗi lòng Thị Mầu “trung thực” .Bởi Thị Mầu “không cần giấu giếm”, Thị Mầu “lẳng lơ” ai cũng thấy “cặp môi hồng con mắt ướt đong đưa”.

Nhưng đã có ai chịu hiều cho Thị Mầu, cũng chỉ là một cô gái, cũng muốn được yêu, được thương, được có hạnh phúc như bao người phụ nữ bình thường khác. Và có ai chịu hiểu cho nỗi lòng một cô gái, muốn yêu mà không được đáp lại tấm chân tình của mình như Thị Mầu không?

Ngược về thời xã hội phong kiến ngày trước. Với quan niệm phụ nữ được ví như là cây cọc, đàn ông như con trâu. Trâu đi tìm cọc chứ cọc sao lại đi tìm được trâu?

Thị Mầu sống trong một xã hội như vậy. Xung quanh Thị Mầu chỉ là các nam gia nô, tá điền…không cùng tầng lớp giai cấp với mình. Vậy thì ai dám bầy tỏ tình yêu với Thị Mầu đây?

Trong cái bức bách ấy. Trái tim loạn nhịp của Mầu muốn nổ tung, khi lên chùa dâng lễ bắt gặp khuôn mặt thánh thiện của chú tiểu Kính Tâm.

Bao nhiêu oan trái giăng ra bủa vây Thị Mầu từ đây. Bắt nguồn từ sự nổi loạn của trái tim muốn yêu mà bị lễ giáo ràng buộc.
 Tác giả viết do “thừa sinh lực nên Người luôn túng thiếu”. Mới cả gan “chọn sắc áo cà sa mà chọc ghẹo”. Mặc dầu Thị Mầu là người lên chùa lễ Phật. Vậy mới thấy sự nổi loạn ghê gớm của trái tim Thị Mầu khi yêu nó bức bách nên muốn phá vỡ mọi khuôn phép . Cốt chỉ để yêu và được yêu bất chấp cả “cửa chùa” …

Tác giả còn cho thấy nhân vật Thị Mầu trong các vở Chèo xưa nay. Thị Mầu đi qua là “nghiêng ngả những trận cười”. Chua xót thay, tiếng cười ấy và bao nhiêu những “thói đời độc địa” và biết bao “lời ong ve mai mỉa” Thị Mầu “bất chấp tất cả” vẫn ung dung “khép mở…” Mầu khép mở cánh quạt trên sân khấu? hay Mầu đang khép mở cánh cửa của lòng mình?Tác giả viết tiếp:

Trên môi người câu hát cứ trẻ trung
Từng sợi tóc cũng rung theo nhịp phách
Mùi táo chín, mùi hương, mùi da thịt
Người đi qua sân khấu tới đời thường

Từ chân dung và nỗi lòng Thị Mầu, tác giả khéo léo đưa ta về với diễn viên đóng vai đào lẳng Thị Mầu trên sân khấu Chèo. Diễn viên hay là Thị Mầu “trên môi…câu hát cứ trẻ trung” . một câu thơ gợi ra rất nhiều ý tưởng . Hình ảnh “từng sợi tóc cũng rung theo nhịp phách” .( Phách là một dụng cụ âm nhạc dùng trong hát chèo) rồi mùi hương, mùi táo chín,mùi da thịt” ở đâu ra trên sân khấu cổ xưa cũng như hôm nay?

Phải chăng tác giả muốn thông qua nhân vật Mầu mà diễn viên đang khắc họa qua bao lớp diễn kia, để đưa ta đi “qua sân khấu tới đời thường” chứ không hẳn là chỉ mình Thị Mầu với “táo chín” với “mùi hương, mùi da thịt”.Bài thơ đang dẫn dắt ta đi tiếp:

Người sống trong hơi thở của nhân dân
Mấy trăm năm ai để thương để giận
Câu sa lệch cũng hò reo nổi loạn
Nhịp trống gầm lên những khát vọng không lời

Những khát vọng nằm sâu trong mỗi trái tim người
Được sống đúng với lòng mình thực chất
Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức
Mấy trăm năm không khóa nổi Thị Màu

Dẫu Thị Mầu là người con gái “lẳng lơ”, là người mà ngay cả nơi tôn nghiêm ‘cửa Phật” cũng “chọc ghẹo” không tha. Khi Thị Mầu xuất hiện thì "câu Sa lệch" vốn là một làn điệu chèo nhẹ nhàng dịu dàng là thế. Nhưng khi câu Sa Lệch ấy đi cùng với Thị Mầu cũng phải "hò reo nổi loạn" theo. 

Thị Mầu vẫn “sống trong hơi thở của nhân dân” suốt mấy trăm năm”. Dẫu có người “để thương” và cũng có người “để giận”. Nhưng Thị Mầu vẫn là người con gái làm cho “câu sa lệch cũng hò reo nổi loạn” vì sao ? nhịp trống chèo rộn ràng là thế nay phải "gầm lên bao khát vọng không lời"
Có phải chăng nỗi niềm khao khát được yêu, được sống với bản năng con người của Thị Mầu, cũng chính là những “khát vọng không lời” của bao nhiêu người con gái xưa nay bị vòng kim cô của lễ giáo kìm tỏa. 
Và phải chăng chính sự nổi loạn bất chấp “xiềng xích được sơn phết màu đạo đức”. Đã góp phần làm cho Thị mầu sống mãi tới ngày nay.

Những cánh màn đã khép lại đằng sau
Táo vẫn rụng sân đình không ai nhặt
Bao Thị Màu đã trở về đời thực
Vị táo còn chua mãi ở đầu môi 


Một bi kịch với cuộc đời Thị Mầu đã trôi qua. Thị Mầu vẫn là cô gái dám sống thật với lòng mình. Bất chấp miệng lưỡi thế gian “độc địa”. Thị Mầu trong truyền thuyết dân gian đã đi vào những vở Chèo và sống mãi tới hôm nay.

Thị Mầu là người phụ nữ mà người đời chê hay khen. Điều đó còn tùy thuộc vào sự nhìn nhận và đánh giá của mỗi cá nhân bạn đọc. Song với tác giả Anh Ngọc thì nhân vật Thị Mầu là một khuôn mẫu người phụ nữ ở thời phong kiến .Với bao “xiềng xích” trong vỏ bọc “đạo đức” khóa chặt đời sống tự do yêu và tự do bầy tỏ tình yêu của người phụ nữ! Thị Mầu đã không cam chịu. Đã không có “xiềng xích” nào “khóa nổi” trái tim nổi loạn của Thị Mầu.


 “Bao Thị Mầu đã trở về đời thực”.Câu khẳng định và cũng là câu hỏi mà tác giả muốn đưa ta trở về xã hội thực tại hôm nay. 
Phải chăng? hôm nay, ta không còn phải đi tìm Thị Mầu trên sân khấu nữa. Biết bao cô gái, áo hai dây, quần cạp trễ liếc mắt đưa tình ngay chỗ đông người. Rồi biết bao cô gái đang yêu đã sống thử bất chấp lề lối gia phong. và rồi "táo vẫn rụng sân đình". "Vị chua" của táo cũng như sự thiệt thòi của người phụ nữ bao đời từ ngàn năm nay vẫn nguyên vẹn như nhau.

Xã hội đã giải phóng cho người phụ nữ rất nhiều rồi. Những “xiềng xích” ngày xưa Thị Mầu phải chịu, hôm nay diễn viên thể hiện trên sân khấu phải nhập vai…đã không còn nữa.


Nhưng đây đó trong xã hội hôm nay vẫn còn phảng phất rất nhiều hình ảnh và tấm lòng muốn sống “trung thực” như Thị Mầu, của biết bao cô gái, vì điều kiện khách quan, hay chủ quan mà vẫn phải mang cái bức bách trong tim khi muốn yêu mà không mà không dám bầy tỏ tình yêu! Để rồi có cơ hội họ bùng lên mãnh liệt, hậu quả  là rất nhiều những thiệt thòi trút lên đầu người phụ nữ sau khi cuộc vui, cuộc nổi loạn qua đi.

Sài Gòn 23/1/2014
Huỳnh Xuân Sơn

Chủ Nhật, 19 tháng 1, 2014

MÙA ĐÔNG XỨ QUẢNG




Đông nay lạnh giá bủa vây khắp
Xứ Quảng Xuân dẫu sắp sửa sang
Chàng trai Trà Khúc ngỡ ngàng
Thấy mình ẩn hiện trong làn mù giăng

Sông Trà cũng băn khoăn sóng uốn
Lớp ưu phiền lớp muốn ngừng trôi
Cỏ Tranh Thiên Ấn xanh tươi
Ngả mình đón gió lạnh cười bay qua!

Đường phố hay làng xa hẻo lánh
Bàng bạc trong giá lạnh chưa từng
Đông ơi! sao mãi ngập ngừng?
Lẽ nào Đông muốn Xuân đừng về mau!

Đại Cổ Lũy...phủ màu sương giá
Mùa Đông này khác quá phải không?
.............
Lời anh nói: Rét vô cùng!
Tôi nghe như lạnh trong lòng cùng ai!!!

Thứ Năm, 16 tháng 1, 2014

KHI MÙA ĐÔNG VỀ





Khi mùa đông về
Mặt trời soi nửa bóng
Cây bàng già đứng lặng tiễn thu đi
Có phải nửa bóng kia
Vẫn âm thầm lặng lẽ
Chờ gió sang mùa
Lên xe cưới vu quy ?

Khi mùa đông về
Ai chờ nhau nửa bóng ?
Một nửa cuồng si
Và một nửa dại khờ
Bờ giậu ngước nhìn đôi tình nhân bỡ ngỡ
Trao nhau nụ hôn đầu
Mà vẫn tưởng trong mơ

Khi mùa đông về
Cuộc tình cũng chỉ còn nửa bóng
Một nửa tương tư
và một nửa nhạt nhòa
Đi bên cạnh cuộc đời
Ta cúi đầu vội vã
Tránh đôi mắt buồn ẩn chứa lệ xót xa

Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

CẢM NHẬN BÀI THƠ MƯA XUÂN CỦA NGUYỄN BÍNH



Sáng nay mở cửa ra, bắt gặp một chồi non vừa nhú ra khỏi cội sung già. Nhìn sang cây mai bon sai, lác đác vài nụ hoa còn trong vỏ trấu. Tiết trời se lạnh. Bất giác tôi nhận thấy dấu hiệu của mùa Xuân khi  khoảng không trước nhà xuất hiện mấy cánh én chao liệng....
. Mùa xuân cũng là mùa của lễ hội, mùa của đôi lứa hẹn hò, trao nhau những lời hẹn ước. Mùa xuân cũng là mùa của cảm xúc thơ ca, thăng hoa trong tâm hồn các thi sĩ.
 Trong dòng chảy thơ ca đương đại viết về mùa xuân, tôi đặc biệt yêu thích bài thơ Mưa Xuân của thi sĩ Nguyễn Bính . Mưa Xuân gợi nhớ tuổi hồng năm nào. Mưa Xuân phơi phới bay như tâm tình cô thiếu nữ, đã cuốn tôi ngược dòng về với những năm nửa đầu của thế kỷ 20
Mưa Xuân
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.



Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.

Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh…

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem

Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em

Chờ mãi anh sang, anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng,
Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng

Mình em lầm lũi trên đường về,
Có ngắn gì đâu một dải đê
áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt
Lạnh lùng em tủi với canh khuya.

Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giầy
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”


Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay”! (Nguyễn Bính)

Bài thơ Mưa Xuân được Nguyễn Bính viết theo thể thơ Tứ Tuyệt Trường Thiên. Nội dung viết về mùa xuân ở vùng quê bắc bộ những năm nửa đầu của thế kỷ 20. Trong Mưa Xuân có bức tranh làng quê ngày xuân, có hội làng, có nỗi lòng của một thôn nữ ở tuổi cập kê. Mưa Xuân như một câu chuyện được Thi Sĩ kể bằng thơ .
Câu chuyện Mưa Xuân, được thi sĩ mở đầu không phải cảnh đẹp xuân, không phải tiết trời xuân .Mà là

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như vuông lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Nhân vật trong thơ, người mà Nguyễn Bính muốn miêu tả ở đây là một thiếu nữ làm nghề dệt lụa. Cảnh nhà đơn chiếc em “dệt lụa quanh năm với mẹ già” . Em còn trẻ được tác giả ví “như vuông lụa trắng”. tức vuông lụa chưa thành phẩm. Cho nên “mẹ già chưa gả bán”…..Em là hình mẫu người thiếu nữ thôn quê trong trắng, luôn luôn có trong thơ Nguyễn Bính. Trong bài Mưa Xuân,  nhân  vật ấy cũng không ngoại lệ. Bài thơ được nối tiếp sau phần giới thiệu bây giờ là:


Bữa ấy, mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.

Cảnh nhà đơn chiếc chỉ có hai mẹ con. Bỗng trở lên vui tươi ở khổ thơ này. Bởi một bữa “mưa xuân phơi phới bay”. Ta có cảm giác lòng Em “phơi phới bay” chứ không phải “mưa xuân” . Hình ảnh Hoa Xoan (Sầu đông) là hình ảnh loài hoa hiện diện ở khắp các làng quê Bắc Bộ từ xưa đến nay. Được Thi sĩ đưa vào Mưa Xuân với “hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy”.
Rồi “hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ” đã làm cho khung cảnh yên bình bị phá vỡ . Tiếng trống hội làng thúc giục, với tiếng loa của “hội chèo” cộng thêm “mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.làm cho “vuông lụa trắng” khấp khởi khi ngồi dệt bên khung cửi.
Mưa xuân đã xuất hiện trong thơ làm cho trời xuân khởi sắc, làm cho lòng người khấp khởi . Câu chuyện Mưa Xuân vẫn đang tiếp tục được Thi sĩ kể rằng:

...Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ tới anh…

Ở đây có lẽ do “mưa xuân phơi phới” rồi “hội chèo” đi ngang ngõ . Hay lời nói của Mẹ đã làm cho “vuông lụa trắng” phải “ngừng thoi lại” . Vì sao “tay xinh”ngừng dệt? có phải bởi “lòng thấy giăng tơ một mối tình” . Tại sao mới chỉ “lòng thấy…”mà đã “hình như hai má em bừng đỏ”? Em sao lại ngượng ngùng khi mới chỉ “nghĩ tới anh”. Một khổ thơ với bao nhiêu câu hỏi, khiến người đọc phải suy ngẫm qua đi. Câu chuyện mưa xuân vẫn còn nối tiếp:

...Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên,
Mưa chấm tay em từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem


Trời đã buông màn nhung tối đen xuống, bao phủ làng quê. Nhà nhà đã lên đèn, Em lúc này mới để ý và ra “trước mái hiên”,làm một hành động rất đẹp “ngửa bàn tay” ra đón “mưa xuân phơi phới bay” . Mặc dù “mưa chấm tay em từng chấm lạnh”. Nhưng em không cảm thấy mưa lạnh đang rót vào tay mình từng hạt, mà em chỉ nghĩ tới “thế nào anh ấy chẳng sang xem”.
Mưa Xuân đã xuất hiện như có tâm hồn “phơi phới bay” .Ở đây,chúng ta càng thấy rõ tài sử dụng từ ngữ tài tình của thi sĩ. “vuông lụa trắng” khấp khởi trong lòng khi nghĩ tới “anh ấy”nên không ngần ngại dẫu ngoài trời đang mưa lạnh :

...Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe,
Mưa bụi nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Bây giờ chúng ta mới thấy từ “vội vàng” xuất hiện. Sau khi em đã “xin phép mẹ”. Mẹ đồng ý nên “Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe”.
Đọc tới đây, tôi có cảm giác Em đã vội để đến “Thôn Đoài”, dù chỉ cách một “thôi đê”. Chỉ có đi nhanh như bay thì “mưa bụi” mới “không làm em ướt áo”được.

Một điều tôi muốn nói rằng, tâm lý chung của mấy cô con gái mới biết rung động trái tim yêu lần đầu, khi nghĩ đến hẹn hò thì sẽ “chân sáo” để đi là cái chắc.

Nếu ai đã từng đi dưới sương đông, chắc hẳn biết nếu đi chậm sương cũng sẽ làm ướt áo, chứ đừng nói đến “mưa bụi”. dẫu “mưa bụi” là mưa nhỏ li ti đi chăng nữa. Câu chuyện Mưa Xuân vẫn còn lôi cuốn ta đi theo sau khi em đến thôn Đoài mà không bị Mưa bụi làm ướt:


...Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em

“Hội Chèo làng Đặng” tới hát ở “thôn Đoài”,  mùa lễ hội mà đặc biệt hôm nay, sẽ “Hát thâu đêm”tức tàn canh “đám hát”mới tan. Em đã xin phép mẹ đi xem hội. Vậy mà “Em mải tìm anh chả thiết xem”. Em có tìm thấy hay không? Giữa chốn đông người đi xem hát ấy, chưa biết. Chỉ thấy phía trước và ngay đêm nay, nơi căn nhà ấm cúng của em và Mẹ sẽ có “giường cửi lạnh”. Em không ngủ cũng không dệt nên “thoi ngà nằm nhớ ngón tay em”. Thoi ngà nhớ người, hay em đangnhớ anh?Câu hỏi này ta mang theo vào câu chuyện Mưa Xuân còn đang tiếp diễn:

...Chờ mãi anh sang, anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng,
Năm tao bẩy tiết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng

Một khổ thơ diễn tả tâm trạng cũng như những lời trách rất thật, rất nhẹ nhàng của cô gái thôn quê. Hóa ra không dưng mà đầu câu chuyện Mưa Xuân, Em lại “hai má bừng đỏ” khi “nghĩ tới anh” Họ đã gặp nhau ở đám “hát bên làng” hôm nọ. Anh chàng đã “năm tao bảy tiết” hò hẹn. Khiến cô gái “lòng còn như vuông lụa trắng” đã tin tưởng và hôm nay thì lại thấy “cả mùa xuân cũng bẽ bàng”. Em thất vọng vì tìm không gặp anh, phải lủi thủi “bẽ bàng” và có cảm giác rằng mùa xuân tươi mới kia cũng “bẽ bàng” theo đấy thôi!
Hội tan con đường về giờ đây:


...Mình em lầm lũi trên đường về,
Có ngắn gì đâu một dải đê
Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt
Lạnh lùng em tủi với canh khuya.

Đám hát đã tan, và “em mải tìm anh” trong vô vọng. Anh đã không đến. Hay là em tìm không gặp?hay là bởi “vô duyên đối diện…” hay là? Hay là? Bao nhiêu câu hỏi không lời giải đáp. Chỉ biết rằng giờ đây “mình em lầm lũi trên đường về” ! “Mình em tủi với canh khuya”! có lẽ em là người sau cùng rời đám hát, nên đường về chỉ có mình em.
Khi đi, em khấp khởi vui bao nhiêu thì bây giờ về là đoạn đường lê thê .“Mưa nặng hạt” và chỉ có “áo mỏng che đầu”. “Thôn Đoài cách một thôi đê” sao gần thế! em đi hết, mà “mưa bụi không ướt áo”!

 Thế mà giờ đây “Có ngắn gì đâu một dải đê”.
Lầm lũi em về với hình ảnh “áo mỏng che đầu” đủ thấy em bị “mưa nặng hạt” làm ướt áo .Thấm lạnh từ mưa và cả cái lạnh từ trong “vuông lụa trắng”, làm em tê tái bước chân trên đường về cô độc.
Câu chuyện mưa xuân vẫn chưa dừng lại . Sau khi Mưa Xuân xuất hiện “phơi phới bay”. Rồi “mưa bụi không làm em ướt áo” và “Mưa nặng hạt” đã trút lên đầu qua lớp “áo mỏng che đầu”. Bây giờ ta gặp lại Mưa Xuân và hoa xoan, Hội chèo, Mẹ Bảo. Nhưng với hình ảnh khác:


...Bữa ấy, mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giầy
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”

Mưa Xuân đã biết vui buồn theo em. Bây giờ Mưa xuân “đã ngại bay”.
Hoa xoan vẫn là hoa xoan rụng rơi trên mặt đất “bữa ấy”. Nó không còn lớp lớp dày” nữa mà giờ thì “hoa xoan đã nát” dưới chân giầy”. Bởi “hội chèo làng Đặng về ngang ngõ”. Thôn Đoài đã hết hội rồi. Còn mẹ lại bảo “Mùa Xuân đã cạn ngày”.
Hội tan , gánh chèo rời đi.em đâu còn cơ hội để tìm anh nữa….Bao nhiêu hy vọng tiêu tan.Nỗi lòng “vuông lụa trắng”có lẽ là hình ảnh “Hoa xoan ….dưới chân giầy” . Làm sao mà trong lòng không tan nát cho được khi mà đã tới Thôn Đoài mà chỉ “tìm anh chả thiết xem”. Cuối cùng hết hội lủi thủi một mình “tủi với canh khuya”! Bây giờ thì “mùa xuân đã cạn ngày”. Hy vọng không còn em chỉ còn biết tự thầm thì với lòng mình, như đang nói với anh thôi:
...Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ bảo rằng: “Hát tối nay!

Có thể nói ,Em đã không may mắn trong mùa xuân này! Với câu hỏi “bao giờ em mới gặp anh đây?” có nghĩa vẫn còn hy vọng. chỉ là chưa gặp thôi! Sẽ gặp! có điều là không biết “bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ”, để mà em lại được nghe “mẹ bảo rằng : Hát tối nay”!Lại đợi chờ...và hy vọng...