Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2015
Tác Giả Hải Minh Và Những Vần Thơ Về Mẹ...
Tác Giả Hải Minh Và Những Vần Thơ Về Mẹ...
Nhờ có Duyên với bài thơ Hè. Tôi đã gặp được dòng thơ đặc biệt của một người lính già, Dòng thơ ông đặc biệt bởi nó được viết từ cảm xúc đã tích tụ từ tình yêu gần một ngàn năm với nàng thơ. Mặc dù Tiền kiếp mà cụ thể là năm 1232 tác giả đã:
Có “phao” tôi đỗ Thám Hoa
Vinh quy bái tổ nhạc loa váng đường…(Mơ)
Một ông Thám Hoa nhờ có Phao mới đậu…Không biết khi ấy triều đình ban cho chức quan gì? Và ông Thám Hải Minh có thực tài gì? Giấc mơ không nói, chỉ thấy trong Mơ ông Thám rất nặng tình với Thơ
Mặc ai ong bướm gái làng
Thám tôi ủ mộng yêu nàng thi nhân (Mơ)
Tình yêu từ tiền kiếp qua cả ngàn đời của ông Thám Hoa Hải Minh đã thực sự cuốn hút kẻ yêu thơ tò mò như tôi đi tìm xem Ông Thám “Ủ mộng yêu nàng thi nhân”ra sao? Khi đọc hết bài thơ cuối cùng cũng là lúc tôi nhận thấy:Mười lăm(15) trang thi phẩm được viết ra từ cảm xúc của Người Lính già một thời trai trẻ xông pha lửa đạn trở về với vết thương lòng rỉ máu.Có cảm xúc của người con Hiếu Kính với Bầm, thêm dòng cảm xúc của một lãng tử đa tình nhưng yếu đuối và cuối cùng là dòng cảm xúc của một Tao Nhân khi tỉnh lúc say gửi vào câu chữ tình yêu tha thiết quê hương tổ quốc…Gần đây có thêm cảm xúc của người ông đối với cháu gái yêu…
Người ta thường xuôi dòng chảy cuộc đời, nhưng ông Thám Hoa Hải Minh hình như luôn muốn ngược dòng. Đó cũng chính là suy đoán để người viết tách cảm xúc của ông ra từng dòng..
Hôm nay người viết xin mạn phép bơi ngược dòng cảm xúc của ông Thám Hoa Hải Minh với dòng thơ viết về mẹ
Tác giả Hải Minh nay vừa qua tuổi 70* Viết về Mẹ thời thiếu nữ , ngày Mẹ về với cha tác giả (có lẽ do ông bà hoặc cha tác giả kể lại) :
MẸ tôi xưa đẹp nhất làng
môi trầu cắn chỉ dịu dàng ,nết na
hội THẦY -mớ bẩy ,mớ ba
MẸ như Cô Tấm mặn mà ,chân quê
cái ngày BÀ đón MẸ về
trăng mười sáu dọc triền đê giãi vàng (trích Vu Lan 1)…Người mẹ, người phụ nữ ấy cũng như bao người mẹ Việt nam vào những thập niên ba mươi, bốn mươi của thế kỷ trước…Tần tảo, lam lũ một đời…Phải chăng ông đã nghẹn ngào khi viết
bây giờ tháng chạp đại hàn
MẸ ra ruộng cấy -răng đàn với môi
tháng tư bão giật mưa rơi
thân cò ,nón lá - tay khơi ,chân dằm
MẸ ơi -thương quá kiếp tằm
nhả tơ ,rút ruột tháng năm hao gầy
mỗi năm làng mở hội THẦY
MẸ ra đầu ngõ -tựa cây -đứng nhìn! (VULAN1)
Ngoài những công việc đồng áng cùng những việc “không tên” trút gánh nặng lên đôi vai người mẹ..Để lo cho đàn con, bà còn phải tranh thủ lúc nông nhàn, tất bật với việc chạy chợ mong cho con cái đủ no… mà quên đi chính bản thân mình…
MẸ tôi ngồi nép bên hè
đôi quang cũ -gánh xôi ,chè chưa vơi
tối ngày tất tả ngược ,xuôi
MẸ đâu biết -lá vàng rơi -thu rồi
bốn mùa tạc một dáng ngồi
nắng ,mưa khắc một nụ cười héo hon
vuốt từng đồng lẻ bợt mòn
thương chồng -vỉ thuốc -lo con -tiền trường
vai gầy gánh nắng , gồng sương
sáng góc phố -trưa công trường- bến xe
đêm nghe gió vít ngọn tre
rưng rưng thương MẸ- vỉa hè mưu sinh! (VULAN3).
Vất vả để lo chu toàn mọi việc, người mẹ ấy còn phải chịu cảnh cô đơn, với bao thương nhớ cùng lo lắng cho người chồng nơi chiến trận.Có lẽ là cha anh đã tham gia Kháng chiến chín năm đánh đuổi thực dân Pháp. Vậy thì ngày ấy làm gì có phương tiện để liên lạc…Thư từ có khi rất hiếm mà đâu phải ai cũng có giấy bút để viết thư…Nỗi niềm người mẹ những năm tháng tuổi xuân vò võ chờ chồng ấy, hiển hiện trong thơ người con hiếu thảo Hải Minh hôm nay:
tôi ngồi chải tóc cho BẦM
sợi đen thì ít hoa dâm thì nhiều
bao nhiêu sợi nhớ sợi yêu
THẦY mang ra trận-sớm chiều hành quân
mang theo cả tuổi thanh xuân
bao đên BẦM khóc -tần ngần soi gương
THẦY giờ nằm lại chiến trường
BẦM tôi bỏ lược ,bỏ gương vào hòm! (VULAN5)
Không biết bà đã chôn vùi bao nhiêu năm tháng tuổi xuân để chờ chồng, nuôi con …Ngày con lớn trưởng thành bà lại tiễn con lên đường đánh Mỹ. Để rồi người mẹ ấy lại nối tiếp những năm tháng đợi chờ trông ngóng con:
từ độ anh đi MẸ tôi chẳng hay cười
NGƯỜI năng lên chùa tuần rằm ,mùng một
những lúc rảnh lại ngồi tựa cột
ngóng anh bưu tá làng bên
bữa cơm nào MẸ cũng vốc thêm
đôi vốc gạo lo anh về nhỡ bữa
bao nhiêu lần MẸ vấp vào bậu cửa
bóng ai áo lính qua làng
bữa cơm chiều MẸ ăn rõ vội vàng
kịp ra ngõ nghe bản tin thời sự
lúc về nhà mặt đầy tư lự
miếng trầu nguyên trong miêng -chẳng nhai
năm tháng qua đi bao lần áo thay vai
bao lần bãi sông rực vàng hoa cải (trích Mẹ Tôi)
Và rồi nỗi đau lớn nhất xé nát tâm can người mẹ ập tới:
ngày báo tử anh MẸ tôi như hóa dại
ốm liệt gường -dỗ mãi chẳng chịu ăn (trích Mẹ Tôi)
Người mẹ nào nghe tin con mình dứt ruột sinh ra mãi mãi không về mà không hóa điên hóa dại…Mẹ tác giả như bao bà mẹ việt nam khác chịu đựng nỗi đau khủng khiếp.Biết bao đêm ngày nỗi đau vò xé trái tim người mẹ, mà có lẽ lúc này tác giả Hải Minh cũng đang ở chiến trường…Đứa về bằng giấy báo Tử , đứa không tin tức hỏi sức đâu bà chịu đựng trong khi vẫn phải gánh vác mọi việc….
nửa đời thắp nến -gọi tên
tự sâu thẳm đâu phút quên hình hài
thức dậy thôi -đứa con trai
bốn mươi năm ngủ miệt mài rừng sâu
MẸ giờ tóc trắng xóa đầu
muốn lay con đậy biết đâu mà tìm
quê người tăm cá ,bóng chim
câu ru xưa quặn thắt tim MẸ rồi
dậy đi con -về nhà thôi
MẸ ngồi bậu cửa ,cuối trời ngóng con (dậy Con Ơi!)
Rồi một ngày Mẹ, Cha tác giả cũng về với ông bà tổ tiên…Anh Hùng , Bảng vàng hỏi còn ý nghĩa gì với những đứa con như tác giả nữa đây?
nếu CHA không đổ mồ hôi
chắc gì đã có -MẸ tôi anh hùng?
bảng vàng chói lọi trong khung
tên CHA nhỏ bé -sau lưng -bụi mờ
chiều nay thắp nén nhang thờ
hai di ảnh đứng cậy nhờ bên nhau! (VU LAN 4)
Mẹ với mỗi người cùng với Quê ngoại, Mẹ ra đi còn cậu dì sợi dây tình cảm gắn kết..Nhưng bất hạnh đã đến với tác giả khi Mẹ mất tác giả cũng mất luôn sợi dây tình cảm này…
ngày ra đi MẸ mang theo tất cả
các CẬU các DÌ thoắt chốc hóa người dưng
con nhớ MẸ và thương quê ngoại
giờ nằm sâu dưới đất lạnh - mấy tầng
con đâu biết sữa DÌ chua hay ngọt ?
câu ca xưa chỉ trong cổ tích thôi
con bươn chải ,lần hồi trên quê nội
bữa cơm đèn - chan nướt mắt mồ côi
quê nội nghèo - xác xơ hàng lá cọ
nắng rắc hoa quanh di ảnh , bụi mờ
đêm mưa lạnh , nghe nhịp buồn điểm chậu
gió luồn khe - dỗ giấc ngủ tỉnh ,mơ
con đã qua bao vùng quê lạ
những cây đa , bến nước , bãi sông ...
đã bao lần lòng con tự hỏi
quê ngoại mình có giống thế này không ?
con đã muốn một lần về quê ngoại
như chiếc thuyền tìm bến đậu bình yên
nhưng không thể , MẸ ơi -không thể
đá thờ ơ nằm chắn nẻo con rồi
thôi đành vậy ! con sẽ về vào dịp
khi BA VÌ thắt mây trắng - để tang
con sẽ về giữa hai hàng nến đỏ
gió đồng hoang rũ rối cỏ nghĩa trang (Quê Ngoại Xa rồi)…
Buồn đau vì mất mẹ thêm nỗi buồn mất cả người thân, Uẩn ức chồng chất khiến đứa con Người Lính già gửi hết tâm tư vào những vần thơ…Tôi đã dừng lại rất lâu với bài thơ Vô Đề…Hình như những nỗi đau, nỗi nhớ thương đè nén trong trái tim, trong sâu thẳm đáy lòng tác giả khiến ước mơ mong mỏi khao khát của đứa con lúc tuổi “thất thập cổ lai hy” lại là Vô Đề:
tôi xin về lại ngõ xưa
một lần cuối đón cơn mưa tuổi hồng
theo CHA kéo vó ngoài sông
nón mê cùng MẸ giữa đồng mót khoai
ngõ trơn ,trượt tiếng thở dài
người xưa đâu -biết còn ai nhớ mình?
bờ ao dáng trúc còn xinh?
tôi soi mặt xuống giếng đình -ngẩn ngơ (VÔ ĐỀ)
Trong 15 trang tác phẩm của tác giả Hải Minh theo chủ quan của người viết thì có bấy nhiêu vần thơ về Mẹ…Những vần thơ chắt lọc từ dòng tình cảm của người con, người lính mộc mạc mà chân thành, ăm ắp tình cảm, Tác giả dành cho mẹ của mình, nhưng hình ảnh người mẹ ấy, sự lam lũ tần tảo ấy, nỗi đợi chờ chồng đi chiến trận mòn mỏi, rồi tiễn con ra trận để rồi lại mỏi mòn ngóng đợi chờ trông….Ngày về của con lại chỉ là tờ giấy vô hồn….Cũng chính là hình ảnh của nhiều, rất nhiều người mẹ Việt Nam khác nữa trên khắp mọi miền quê...
Trong khuôn khổ bài viết này. Người viết chưa thể, hay không đủ can đảm, để đi sâu vào từng ý thơ chất chứa nỗi đau của người mẹ một đời truân chuyên ấy! Đi sâu vào tình cảm của tác giả “…dù lớn vẫn là con của mẹ” có khi lại khơi dậy niềm đau mà khi nhức nhối ông đã bật lên những tứ thơ…những mong vợi bớt nỗi niềm…
Sẽ là chưa đủ nếu không nhắc đến những trở trăn về nỗi đau của người Phụ Nữ mà đại diện là Mẹ của đồng đội. Người mà chính ông đưa tay vuốt mắt trên chiến trường...Hay như bài thơ ông viết về Mẹ Âu Cơ và bài thơ viết về Những bà mẹ vô cảm của Những Thiên Thần Gãy Cánh....những bài thơ ấy người viết xin trích dẫn vào một dịp khác..
Thôi thì người viết mong bài viết này như một lời sẻ chia, như một sự đồng cảm, xin gửi tới tác giả Hải Minh người lính già, người con hiếu thảo…
* Tác giả 70 tuổi là do Xuân Sơn đọc được trong một lời comment của chính tác giả..
Sài Gòn 30/10
Huỳnh Xuân Sơn
Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015
ĐỌC THƠ XANH CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN VĂN TƯ
Cách xưng hô của người Việt rất độc đáo, nó có thể thay đổi linh hoạt tùy theo vị thế và quan hệ thân hữu. Trong bất cứ hoàn cảnh nào khi ta xưng hô thích hợp sẽ tạo thêm sự thân mật gần gũi với người đối thoại. trong quan hệ xã hội thông thường có các cặp xưng hô như Ông-cháu, bác- cháu, chú- cháu, rồi tới anh- em. Nữ thì cũng các cặp theo ngôi thứ tương xứng chỉ thay cách xưng hô của phái nữ vào thôi !
Cùng với quan điểm ngôi thứ như vậy nhưng với giới văn nghệ sĩ, thì lại không theo sự phân ngôi thứ thông thường trong xã hội. Ta sẽ ngạc nhiên vô cùng khi một cô thôn nữ 18 tuổi gọi bác nông dân 30 tuổi bằng anh. Nhưng một cô ca sĩ 20 tuổi gọi một ca sĩ đàn anh 40 thậm chí 60 tuổi bằng anh là chuyện bình thường.
Điều này đi vào âm nhạc một cách rất tự nhiên như ca khúc Hai Mươi bốn Mươi của nhạc sĩ Y Vân với ca từ như:
Năm anh hai mươi, em mới sinh ra đời
Ngày anh bốn mươi em cũng vừa đôi mươi
Tình đời nhiều lúc mỉa mai, cuộc đời nhiều đắng nhiều cay vui đó sầu đây
Khi em còn trong nôi anh đã lo việc đời- (Y vân)
Còn ở đây ngay trang thơ này tôi bắt gặp một bài thơ thật dễ thương
Thơ Xanh
Gọi chú bằng anh đi em.
Để cho chồi biếc con tim quên già.
Gọi chú bằng anh đi mà.
Để đời khỏe,chống phong ba,chòng trành.
Bể tình thì cứ mông mênh .
Thuyền thơ thì cứ lênh đênh giữa dòng
Xanh rờn nào rõ đục trong.
Sóng thơ thì cứ theo dòng thơ trôi.
Gọi chú bằng anh em ơi.
Để chú thêm sức chảy xuôi theo thuyền.
Dòng thơ cuộn chảy triền miên.
không bờ thơ biết neo thuyền nơi đâu.
..........
Dẫu cho sương trắng mái đầu.
Vẫn mong giữ mãi một mầu thơ xanh.
Tôi đã rất ngạc nhiên với tựa đề này, nhưng khi đọc cả bài thơ mới vỡ òa ra. Một bài thơ rất thật, rất tình cảm và ý nghĩa sâu xa.Khi hiểu hết Thơ Xanh tôi đã quyết định viết ra điều tôi nghĩ với bạn đọc .Tại sao lại là Thơ Xanh mà không là thơ hồng, thơ tím…
Gọi chú bằng anh đi em.
Để cho chồi biếc con tim quên già.
Gọi chú bằng anh đi mà.
Để đời khỏe,chống phong ba,tròng trành.
Bốn câu thơ đầu hai lần tác giả nói “Gọi chú bằng anh đi”. Nhưng ở câu trên thì nói “đi em” rất tình cảm cứ như cái chuyện gọi bằng anh em này là lẽ tự nhiên vậy, chỉ cái sự gọi bằng chú kia mới là không bình thường.
tác giả nói “em” gọi bằng “anh” “Để cho chồi biếc con tim quên già”. Bản thân tác giả lại để hở cái điều câu mở đầu nói lẽ thường phải gọi anh xưng em kia.
Nếu thuận thì đâu có chuyện phải mong thế để “chồi biếc” (là chồi xanh hy vọng) “con tim quên già” tác giả tự khẳng định là già rồi và chỉ muốn xưng hô vậy để quên rằng đã già đi.
Câu gọi chú thứ hai lặp lại nhịp thơ trùng xuống không còn tự tin như câu đầu nữa mà từ “đi em” chuyển sang “đi mà”. Chưa có sự phản hồi từ phía em,mà sao tác giả đã thiếu tự tin vậy? để phải xuống nước năn nỉ “đi mà”. Tác giả năn nỉ “để đời khỏe chống phong ba tròng trành”. Có lẽ việc xưng hô này quả là cần thiết với tác giả!
Nhưng phía em có đồng ý hay không, và tại sao lại quan trọng việc xưng hô này đến vậy, thì chưa thấy tác giả nói đến. Tác giả viết tiếp
Bể tình thì cứ mông mênh .
Thuyền thơ thì cứ lênh đênh giữa dòng
Xanh rờn nào rõ đục trong.
Sóng thơ thì cứ theo dòng thơ trôi.
Hóa ra tác giả cần “chồi biếc con tim quên già” và để “khỏe chống phong ba tròng trành” vì ông đang ở trên một con thyền thơ nó cứ trôi giữa “mênh mông” “bể tình” mà chẳng hề biết ông đang cô đơn, Dòng tình thơ cứ trôi, con thuyền thơ ông thì “lênh đênh giữa dòng”. Sóng của dòng tình thì vô tình hay cố ý cứ trôi theo dòng thơ trước mặt ông thôi.
Tác giả năn nỉ thêm một bước nữa
Gọi chú bằng anh em ơi!
Để chú thêm sức chảy xuôi theo thuyền.
Dòng thơ cuộn chảy triền miên.
không bờ thơ biết neo thuyền nơi đâu.
Lần này ông thiên về tâm lý đánh vào tình cảm của Em sau khi có vẻ như xuống nước không ăn thua. Ông khẳng định “gọi chú bằng anh em ơi!” nếu gọi vậy thì “Chú thêm sức chảy xuôi theo thuyền”. Chà! có lẽ bên em xuôi hay sao mà ông dấn thêm một chút tâm lý nữa “ dòng thơ cuộn chảy triền miên” (ai lại không biết nhỉ) nhưng đó chỉ là bước đệm để ông nhấn mạnh “không bờ thơ biết neo thuyền nơi đâu”
Thì ra là vậy ông muốn em là bờ để dòng thơ kia có chỗ dừng lại thôi! Một sức mạnh tiếp thêm năng lượng cho trái tim đã già của ông có thể quên đi sự già ấy! Em ở đây vẫn chưa lên tiếng và ông cũng không khẳng định là em có gọi chú bằng anh theo yêu cầu hay không!
Chỉ thấy từ đầu đến giờ là cuộc độc thoại trong vỏ bọc đối thoại mà diễn tiến tâm lý của Chú tăng dần độ phức tạp từ yêu cầu “Gọi chú bằng anh” “đi em” rồi “đi mà” và đến “em ơi” ! không có bên kia đáp trả vậy có thể suy ra đây là cuộc độc thoại bởi cuộc đối thoại trong Thơ Xanh của thi sĩ đã dừng ở đây khi mà bài thơ bị ngắt quãng bằng một hàng dấu chấm dài với cặp câu kết
........
Dẫu cho sương trắng mái đầu.
Vẫn mong giữ mãi một mầu thơ xanh.
Cuối cùng thì suy luận ở trên đã đúng khi ở câu kết ông khẳng định mình “dẫu cho sương trắng mái đầu” thì ông “vẫn mong giữ mãi một màu thơ xanh”. Màu xanh là màu của sự sống tươi trẻ và cũng là màu của hy vọng
Một tâm hồn lãng mạn trẻ trung được thể hiện trong bài Thơ Xanh. Dẫu người viết nó đã “sương trắng mái đầu’.
Trong cuộc sống lúc nào và bao giờ cũng vậy hy vọng thể hiện bằng màu xanh chứ không phải màu hồng của tình yêu và càng không phải màu tím của lãng mạn .
Hy vọng cần và rất cần cho thơ, cho nhạc và cho cuộc sống hôm nay, và cho bất cứ ai, chứ không chỉ một mình tác giả bài Thơ Xanh.
Và ở đây chắc chắn rồi bài thơ này là một ngọn sóng trong dòng sông thơ mang màu xanh ngăn ngắt của tác giả. Tâm hồn tươi trẻ lãng mạn của ông luôn được dòng thơ tình màu xanh tưới mát mỗi ngày
Tôi đã hiểu ra tại sao không phải thơ hồng thơ tím mà lại là Thơ Xanh như vậy đấy
Sài Gòn 7/11/2013
Huỳnh Xuân Sơn
GỬI KIỀU NỮ VÔ DANH Một Sự Cảm Thông! Ngàn Lời Chia Sẻ
Người viết chưa có dịp diện kiến tác giả Phạm Ngọc Lư ngoài đời.Nhưng thời gian ngắn qua đã được đọc và cảm nhận một số tác phẩm của tác giả đăng trên Facebook.Đặc biệt sau khi đồng cảm với Biên Cương Hành…Với riêng cá nhân người viết và có lẽ không ít bạn đọc yêu thơ Phạm Ngọc Lư thì chỉ một bài Hành ấy thôi đã đủ làm nên một tên tuổi đáng kính…
Dòng thơ của tác giả Phạm Ngọc Lư thực sự cuốn hút người viết, để rồi hôm nay gặp được bài thơ tác giả viết cho người phụ nữ Vô Danh mang thân phận một Nàng Kiều thời hiện đại:
GỞI KIỀU NỮ VÔ DANH
Em mấy mùa vung vãi phấn hương ?
Mà đêm nay rũ rượi y thường
Nhìn ta đôi mắt như ngâm rượu
Xanh lét bàn tay rót tang thương
Quán tù mù như một âm cung
Rượu phù hoa rót chén phù dung
Một ly thâm tạ tình nhan sắc
Hai ly bái kiến nợ đào hồng
Em khuấy tiếng cười pha giọt lệ
Rót mời ta cạn một biển lòng
Sao mắt chua như màu rượu bạc
Cứ cụng đầu như cụng thinh không
Gặp nhau như thể trong thơ truyện
Cũng lệ Tầm Dương ươn ướt tình
Chỉ tiếc đời bặt tăm Từ Hải
Em đành vương víu nợ Thúc Sinh
Hương phấn mấy mùa thôi góp lại
Dọn mình đi ta gởi đóa hồng
Đêm nay tương kiến là tương biệt
Mai em về một bến nước trong ? (Phạm Ngọc Lư, 2003)
Năm khổ thơ với hai mươi câu thơ là những lời trần tình, tâm sự, là tiếng lòng cảm thông, là lời khuyên nhủ, là khát vọng, là sự chia sẻ với một thiếu nữ tác giả gọi là Vô Danh. Chủ thể trữ tình Em…
Không khỏi ngậm ngùi khi đọc Gửi Kiều Nữ Vô Danh, bất giác người viết nhớ tới Cảnh Đoạn Trường của Thái Can
Đứng dậy em ơi sống cõi đời
Đời dầu khổ nhục đến mười mươi
Em nên điểm phấn tô son lại
Ngạo với nhân gian một nụ cười”
Ngày ấy Bác sĩ Thái Can sau khi cứu sống một vũ nữ tự vẫn, nghe cô nói “đời em buồn” mà ông để lại Cảnh Đoạn Trường sống mãi tới hôm nay…Phải chăng bài thơ được nhiều thế hệ bạn đọc nhắc nhớ, một phần nhờ khổ thơ chuyên chở lời khuyên nhủ đầy tính cảm thông cùng “lối tư tưởng Nghệ thuật vị nhân sinh” sâu sắc trên đây!
Hôm nay tác giả Phạm Ngọc Lư cùng Gửi Kiều Nữ Vô Danh với bối cảnh không ở giữa lằn ranh của sự sống và cái chết của Kiều Nữ… mà là một lần “tương kiến” ngay tại “quán tù mù”. Nơi ấy có tiếng cười hiếm hoi trong thơ của tác giả, tiếng cười này không nghe thấy, không nhìn được mà phải uống, ngay cả người viết cũng cảm nhận thật khó uống khi mà:
Em khuấy tiếng cười pha giọt lệ
Rót mời ta cạn một biển lòng
Sao mắt chua như màu rượu bạc
Cứ cụng đầu như cụng thinh không
Khổ thơ với rất nhiều động từ, tính từ như : khuấy, pha, rót, cạn, cụng… được sử dụng như phép đối trong thơ, cùng với “tiếng cười, giọt lệ’ rồi “một biển lòng” được chủ thể Em mời cạn, bên cạnh ánh mắt được so sánh với “màu rượu bạc” và đôi mắt ấy còn khiến cho người đối diện cảm nhận được vị “chua” trong ánh nhìn …Nhất là khi “Cứ cụng đầu như cụng vào thinh không”! Chua chát của đời người thấm đẫm cả trong ánh nhìn ấy? Hay chua chát của “một biển lòng” trào lên ẩn chứa trong cái nhìn, khiến người đối diện cảm thấy “màu rượu bạc” lan tỏa…
Làm sao mà không cạn được đây? Dẫu cho phải cạn cả một biển lòng hoặc nhiều hơn thế nữa !Thì cũng uống bởi em đã khuấy cả niềm vui trộn lẫn nỗi buồn tủi rồi mời cơ mà Làm sao mà có tiếng cười chua chát nghẹn ngào đến thế? Phải chăng bất cứ ai đọc đến đây đều ngậm ngùi dừng lại, hay chỉ mình tác giả , mình tôi…
Và khi cả hai chủ thể trữ tình Ta và Em lại chìm đắm trong một không gian ảm đạm, không kém phận đời của người mang đôi mắt “chua như màu rượu bạc”
Quán tù mù như một âm cung
Rượu phù hoa rót chén phù dung
Một ly thâm tạ tình nhan sắc
Hai ly bái kiến nợ đào hồng
Một không gian “tù mù như một âm cung ”ư? Không, hình như là một không gian mờ ảo lãng mạn bao trùm hai người đấy chứ!
Còn Rượu! theo lẽ thường chỉ có rượu mạnh,rượu chát, rượu đế…” nay trong hình tượng thơ ca có thêm “rượu phù hoa”? Rượu phù hoa ? hay chốn phù hoa? Ừ cứ cho là có “rượu phù hoa” đi chăng nữa thì rượu ấy đang được rót vào “chén phù dung”. Ôi! Cánh hoa phù dung “sớm nở tối tàn” thường được ví như thân phận người phụ nữ “hồng nhan bạc phận” lại được dùng để mà “ Một ly…Hai ly…Ly nợ đào hồng? ly tình nhan sắc? Bái kiến gì nhau với cảnh sầu thương ảm đạm đến tận sâu thẳm lòng người vậy?
Đây rồi! chủ thể Em có lẽ cũng chính là người đang rót “rượu phù hoa”, đã được tác giả khắc họa qua những câu thơ cũng là câu hỏi:
Em mấy mùa vung vãi phấn hương ?
Mà đêm nay rũ rượi y thường
Nhìn ta đôi mắt như ngâm rượu
Xanh lét bàn tay rót tang thương
Trời ạ! Ngôn ngữ thơ ca thường hay ca ngợi vẻ đẹp đài các kiêu sa của người thiếu nữ, hay vẻ đẹp giản dị chân quê …Ở đây, Em của tác giả dáng vẻ bên ngoài với quần áo thì “rũ rượi...”, thần sắc thì “xanh lét bàn tay” và đôi mắt, cửa sổ tâm hồn thì không còn sức sống nữa..Từ đôi mắt ấy gieo vào lòng người đối diện một ánh nhìn “như ngâm rượu”!Thêm một động từ rót nữa nhưng không còn rót rượu mà đã chuyển qua rót tang thương! Rượu phù hoa còn có chén phù dung để rót. Tang thương đang được đôi bàn tay xanh lét rót đi đâu? Phải chăng đang rót từ quá khứ vào thực tại? Hay rót tới tương lai, Hai chữ “tang thương” quả thật đã làm đau lòng người khi viết, khi đọc và khi cảm nhận…
Hai chữ tang thương ấy phải chăng là phận đời tủi nhục mà Em đã và đang trải qua chưa biết mấy mùa, nhưng một khúc sông buồn là đây:
Gặp nhau như thể trong thơ truyện
Cũng lệ Tầm Dương ươn ướt tình
Chỉ tiếc đời bặt tăm Từ Hải
Em đành vương víu nợ Thúc Sinh
Trong thơ nào? Chuyện nào ? và cảnh gặp nhau chưa thấy đâu? Chỉ thấy cũng có giọt lệ chia ly của kẻ ở người đi như tác gải đã mượn bến Tầm Dương để mô tả. Nhưng với tính từ “ươn ướt ” thì nó đã là điềm báo cho một thứ tình cảm không lấy gì làm vui hay niềm hy vọng cho Em với câu chuyện tình.
Kiều trong thơ của đại thi hào Nguyễn Du vì chuộc cha mà phải bán mình để rồi còn an ủi là gặp được Từ Hải sau khi bị Hoạn Thư vợ Thúc Sinh đánh ghen…Còn Kiều Nữ Vô Danh thì lại đang vương víu nợ Thúc Sinh thời hiện đại, bởi Từ Hải đã chết đứng từ trong truyện Kiều lâu rồi, Nay tìm đâu có Từ Hải thời hiện đại để cứu Em được nữa..
Thôi! dù cay đắng, dù xót xa, thân phận Kiều Nữ Vô Danh “mười hai bến nước”nào biết đục trong? cũng đành phó thác đời mình cho số phận đẩy đưa…Hãy nghe lời khuyên , cũng là một khổ kết có hậu, được viết ra từ trái tim đa cảm của một “Tao Nhân” đa sầu…
Hương phấn mấy mùa thôi góp lại
Dọn mình đi ta gởi đóa hồng
Đêm nay tương kiến là tương biệt
Mai em về một bến nước trong ?
Vậy là đã rõ, người cạn một ly... hai Ly… “Rượu phù dung” được khuấy tan tiếng cười và giọt lệ hòa chung.Đêm nay cùng Em “Tao nhân”cũng chỉ là khách qua đường, như bao người khách xưa nay đến mua vui rồi đi…Chẳng biết “đã mấy mùa vung vãi phấn hương”rồi nữa.Nhưng đêm nay nhìn em “rũ rượu y thường…” Người ấy đã cùng em “cạn một biển lòng” và bây giờ thì nhắc lại “hương phấn mấy mùa..” nhưng không hỏi nữa mà khuyên “Thôi góp lại” để mà “dọn mình đi”.Thêm một lần Ta xuất hiện nữa, Ta với ngôi thứ hai hay là ngôi thứ ba? Người viết không cần biết nữa..Chỉ biết rằng Ta xuất hiện bây giờ là để “gửi đóa hồng”, rồi thì “tương biệt”.
Và có lẽ sau khi từ biệt, Ta cũng sẽ có một tấm lòng như nhà thơ Thái Can
Ngày mai ở mãi chốn chân trời
Trong cảnh gia đình ấm áp vui
Một phút trầm ngâm anh sẽ khấn
Cho em trở lại được cười tươi “ (Cảnh Đoạn Trường-Thái Can)
Bác sĩ nhà thơ Thái Can hay Ta chủ thể trữ tình của tác giả Phạm Ngọc Lư, đều gửi gắm tâm tư tình cảm, cũng như lòng nhân đạo cảm thông sâu sắc cho những mảnh đời phụ nữ không may bị hoàn cảnh đưa đẩy phải kiếm sống bằng nghề thường được coi là dưới đáy tận cùng của xã hội....
Tác giả, cũng như người viết bài này và mong rằng bạn đọc có cùng chung ý nghĩ, cầu mong cho Kiều Nữ Vô Danh “đêm nay tương kiến là tương biệt”. Để hy vọng rằng “mai em về một bến nước trong” .Vâng ở “bến nước trong” ấy có một căn nhà nhỏ, có một bờ vai vững chãi, có tiếng khóc cười của trẻ thơ…Và từ căn nhà ấy vọng ra tiếng hát:
“ Khóc cho vơi đi những nhục hình.
Nói cho quên đi những tội tình.
Đời con gái cũng cần dĩ vãng
Mà em tôi chỉ còn tương lai…”(Bài không tên số 4-Vũ Thành An)
Bài thơ Gửi Kiều Nữ Vô Danh của tác giả Phạm Ngọc Lư. từng câu từng từ viết ra đều chuyên chở một sự đồng cảm, sẻ chia. Không chỉ với thân phận cá nhân Kiều Nữ Vô Danh, mà có lẽ anh còn mong muốn chia sẻ cảm thông tới rất nhiều mảnh đời phụ nữ, đang phải trôi nổi dập dềnh trong ngập ngụa, đục ngầu bể dâu cuộc đời, Dẫu muốn họ cũng chưa có cơ hội “dọn mình” để “Mai em về một bến nước trong”!
Tháng 1/2015
HXS
Sài Gòn 19/1/1015
Sài Gòn 19/1/1015
ƯỚC ! CỦA TÁC GIẢ PHẠM TẤN THU
Chiều thành phố Tuy Hoà trời buông làn mây bạc theo cơn gió lang thang, để rồi len vào quán cà phê T& K nơi người viết đang cùng dăm người bạn, hầu hết mái tóc đã muối nhiều hơn tiêu ngồi vui chuyện phiếm, mà khuấy động...
Hết thời sự, tới nhạc và cuối cùng tới thơ. Khi biết người viết đang tập cảm nhận thơ, một vị khách đã qua tuổi 70 nãy giờ ngồi trầm ngâm ít nói, mở máy và đưa cho người viết đọc bài thơ kèm theo câu nói "Bạn cho mình một nhận xét nhé!". Đọc xong bốn câu thơ ấy hẳn người viết đã đỏ mặt mà đưa cho ông xã xem, rồi quay sang trả lời tác giả rằng" hai chữ rộng của tác giả khiến Xuân Sơn chết đuối rồi, nên khó cho tác giả nhận xét gì được...Tác giả mỉm cười, còn mấy anh bạn và ông xã người viết thì đọc rồi quay sang chuyện khác...
Hơn một tháng qua đi, Tác giả đã về lại bên kia quả địa cầu.Người viết vẫn bị mắc nợ một lời nhận xét...
Vẫn biết mắc nợ thì trước sau cũng phải trả, tác giả có thể xoá nợ cho, nhưng nợ nàng thơ thì có lẽ phải gánh nợ không biết đến bao giờ....Thôi thì người viết quyết định trả nợ cho bốn câu thơ ấy bằng những suy nghĩ của riêng mình...
Ước!
Trong tay anh không gian vẫn rộng
Giọt mồ hôi chen giữa làn da
Em ước sao Vu Sơn trải rộng
Để ngàn đời khoảng cách không xa (Phạm Tấn Thu)
Bốn câu thơ, tổng cộng hai mươi tám chữ, hai mươi bảy từ được tác giả sử dụng thể loại thơ tự do để sắp xếp thành chiếc xe chuyên chở Ước!
Ước! này chủ thể trữ tình là Em lại được viết ra từ một đấng mày râu đã qua tuổi thất thập cổ lai hy, Hẳn những chiêm nghiệm từ cuộc sống, tình yêu, tình người đã chín ửng...
Hai tính từ Rộng cùng nghĩa được tác giả sử dụng như hai bánh xe gắn trên chuyến xe kiệm lời mà sâu rộng ý Ước!
Thế nào là rộng? câu hỏi này ai cũng có thể trả lời, nhưng tuỳ cảnh tuỳ vật đối diện mà câu trả lời không bao giờ giống nhau...xâu chỉ vào một cây kim còn có thể nói cây kim này lỗ rộng.
Rộng như biển vẫn có bờ vẫn cô đơn như ai. Nhà thơ Hữu Thỉnh đã từng thấy:
Biển vẫn cậy mình dài rộng thế
Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn (Hữu Thỉnh)
Nghĩa hai từ rộng của chôn kim và biển cả là đồng nghĩa ...
Dông dài một chút để quay về với hai từ rộng của Ước! chủ thể em hẳn đang rất hạnh phúc và mãn nguyện "Trong tay anh.." Chắc hẳn sẽ có bạn hỏi rằng :mới trong tay anh thôi mà sao người viết lại khẳng định Em mãn nguyện và hạnh phúc. Nếu thắc mắc thì bạn hãy đi tiếp cùng Ước vì xe vẫn đang chuyển bánh mà.
Hai chủ thể trữ tình anh và em lúc này khoảng cách chỉ có "Giọt mồ hôi" vô duyên vô dáng không đâu lại "chen" vào "giữa" mà nào có phải giữa gì cho cam. Giữa "hai làn da" bạn ạ!
Nhưng với chủ thể em của tác giả thì giây phút thăng hoa của tình yêu tận hiến ấy chưa đủ để hai tâm hồn cũng như hai thể xác hoà quyện và tan biến vào nhau. Nên dẫu đang "trong tay anh" và chỉ có "giọt mồ hôi chen giữa làn da" mà Em vẫn thốt lên rằng "không gian" này "vẫn rộng". Một tính từ Giữa và một động từ Chen được tác giả sử dụng thật đắt, người viết trộm nghĩ nếu thay hai từ này bằng bất kỳ một từ nào khác trong kho tàng từ ngữ Việt thì ý nghĩa hồn cốt bài thơ lại chuyển sang một hướng khác...
Một dấu hỏi thật to người viết xin đánh dấu ở đây để đẩy chuyến xe vào không gian rộng khác của Ước...
Em Ước sao Vu Sơn trải rộng
Để ngàn đời khoảng cách không xa.
Lại vẫn là Em chứ không phải là Anh! Ước gì lúc trong tay anh sao lại ước "vu sơn trải rộng" nhỉ? Vu Sơn nằm cạnh đầm Vân Mộng thuộc đất Cao Đường bên xứ Tàu cơ mà?
Thắc mắc bởi Rộng giờ thêm thắc mắc tại sao lại xuất hiện Vu Sơn trong Điển tích tận xứ người ở đây?
Điển tích Vu Sơn ? Người xưa tương truyền lại rằng: Đời Chiến Quốc vua Sở Tương Vương thường đến du ngoạn nơi núi Vu Sơn...Một trong những lần du ngoạn như thế nhà vua mệt ngủ thiếp đi. Trong giấc điệp nhà vua gặp một giai nhân tuyệt sắc đến bên cạnh và họ cùng nhau ân ái...Trước khi tỉnh mộng nhà vua còn kịp nghe nàng trả lời rằng " Ở Thiên cung thiếp có nhiệm vụ buổi sớm làm mây, buổi chiều làm mưa ở Dương Đài"
Sau khi nhà vua tỉnh mộng thì hương thơm của giai nhân còn phảng phất bên mình... Tích ấy đúng sai người viết không dám lạm bàn, chỉ biết rằng hai từ Mây Mưa hay cụm từ "Giấc mộng Vu Sơn" cho đến ngày nay vẫn được dùng chỉ việc nam nữ bên nhau ân ái và có lẽ là cả những lúc bên nhau chỉ có "giọt mồ hôi chen giữa làn da"..
Xin quay trở lại với Ước! chủ thể Em có một nỗi khát khao mong ước thật lạ nhưng cũng rất thực rằng: "ước sao vu Sơn trải rộng. Để ngàn đời khoảng cách không xa". Núi Vu Sơn khi Em ở "trong tay anh" ấy có không gian rộng bao nhiêu so với cái rộng của một vòng tay, Tác giả không nói hay có lẽ không có thước đo nào có thể đo được để mà nói .
Vì có lẽ đỉnh Vu Sơn này không tồn tại nơi hai người bên nhau nữa..Nó vô hình mà hiện hữu trong lòng trong tâm trí của chủ thể em. Em vốn chỉ ước nó rộng nhằm thoả mãn nỗi khát khao được trú ngụ mãi "ngàn đời" trong cái Rộng của vòng " tay anh"mà thôi!
Tới đây người viết đã phần nào trả lời được dấu hỏi đánh dấu ở giữa chặng đường tới đây.
Câu trả lời ấy Phải chăng chủ thể em khi đang "trong tay anh" dẫu chỉ có "giọt mồ hôi chen giữa làn da" thôi! mà lại cảm thấy rộng. Rồi bật ra Ước ! Em phải chăng là một "Thần nữ núi Vu Sơn" còn anh là một Đấng Quân Vương trong một lần du ngoạn rồi gặp gỡ nhau phần nào đó giống như trong "Giấc Vu Sơn" rồi ngày mai mỗi người trở về đời thực sống cuộc sống của chính con người thực của mình...Đúng sai người viết không dám khẳng định..Chỉ có ba người biết chắc chắn kết quả đó là chủ thể Em, chủ thể Anh của Ước và tác giả Phạm Tấn Thu mà thôi!
Chuyến xe Ước được chế tác bằng hai mươi tám ngôn từ bình dị chuyên chở ý thơ rộng dài và hun hút vừa tới đích dừng lại cùng người đồng hành...
Là Phụ nữ,cộng thêm tuổi đời và vốn sống cũng như sự từng trải trong tình yêu và cuộc sống còn hạn chế, có thể những cảm nhận trên đây chưa phải là những điều tác giả Phạm Tấn Thu muốn gửi gắm...Người viết rất mong nhận đươc sự lượng thứ từ bạn đọc cũng như tác giả nếu như có điều sai sót!
Sài Gòn 10/4/2015
Huỳnh Xuân Sơn
Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015
YÊN BÌNH của tác giả PHẠM THÔN NHÂN
Cứ ngỡ chiến tranh đã kết thúc sau 30/4/1975. Nhưng rồi thanh niên trai tráng cả nước lại bị cuốn vào bão lửa chiến tranh Biên giới Tây Nam, Biên giới phía Bắc. Tiếng súng trong chiến trận cướp đi sinh mạng của những người lính chỉ thực sự ngừng vào năm 1989..
Người ngã xuống đã yên nghỉ trong lòng đất mẹ! Người gửi lại một phần xương máu, và những người may mắn trở về lại mang trong mình nhiều vết thương.
Vết thương trên da thịt xương máu có thể đã liền sẹo, nhưng vết thương trong lòng thì luôn âm ỉ và thật khó liền…
Người thương binh, đã kinh qua hai cuộc chiến khốc liệt trờ về. Ôm trong lòng bao nỗi đau, nhưng ông đã tìm nguôi quên, tìm bình yên trong thơ, trong hội họa và trong nghiên cứu khoa học. Những ngày này dù đang vật lộn với vết thương tái phát hành hạ, ông vẫn có những vần thơ khiến người đọc phải suy tư. Yên Bình là một trong số những bài như thế, của nhà thơ, họa sĩ, nhà khoa học với bút danh Phạm Thôn Nhân
Yên Bình
Bom đạn đã qua.
Vết thương vờ ngủ…
Ôi! cái bình yên trong bão lửa,
Hãy về, ru ngủ trái tim ta!
Cái thời khói lửa đã xa,
Mà nghe gió rít ngỡ là chiến tranh.
Hiền hoà bến nước đồng xanh.
Gió đừng rít để yên lành nước non. (Phạm Thôn Nhân)
Với tám câu thơ ngắn có dài có, chứa vỏn vẹn đúng 50 từ được tác giả gửi vào thể thơ tự do. Yên Bình là tựa đề của nội dung tác giả muốn chuyển tải đến bạn đọc.
Phải chăng là:
Sự bình yên của lòng người trở về từ hai cuộc chiến?
Sự bình yên có được từ nỗi đau thân thể ngừng hành hạ?
Sự bình yên khi bốn cuộc chiến trong một thế kỷ đã kết thúc?
Sự bình yên của quê hương đất nước?
Dẫu là sự bình yên nào đi nữa, thì những câu thơ xuất phát từ trái tim người lính, người thương binh, nhà thơ, nhà khoa học cũng đã gửi gắm xong vào câu chữ. Để giờ đây ta có dịp đồng hành với tâm tư của tác giả.
Bây giờ ai cũng biết, ai cũng thấy rằng “Bom đạn đã qua"
“Bom đạn đã qua”ấy vốn chỉ là tiếng súng đã ngừng thôi, chứ hậu những tiếng nổ đã qua thì chỉ như những :“Vết thương vờ ngủ…” mà thôi!
Vâng! người viết cũng đồng ý với tác giả nó vờ ngủ chứ chưa bao giờ ngủ cả. Ngay như trên thân thể của tác giả thôi, những mảnh bom, mảnh đạn tưởng đã chung sống hòa bình rồi, Nhưng không! lâu lâu khi “trái gió trở giời” lại găm sâu, chọc ngoáy thêm vết thương vốn đã nhiều năm đau nhức.
Dẫu là sự bình yên nào đi nữa, thì những câu thơ xuất phát từ trái tim người lính, người thương binh, nhà thơ, nhà khoa học cũng đã gửi gắm xong vào câu chữ. Để giờ đây ta có dịp đồng hành với tâm tư của tác giả.
Bây giờ ai cũng biết, ai cũng thấy rằng “Bom đạn đã qua"
“Bom đạn đã qua”ấy vốn chỉ là tiếng súng đã ngừng thôi, chứ hậu những tiếng nổ đã qua thì chỉ như những :“Vết thương vờ ngủ…” mà thôi!
Vâng! người viết cũng đồng ý với tác giả nó vờ ngủ chứ chưa bao giờ ngủ cả. Ngay như trên thân thể của tác giả thôi, những mảnh bom, mảnh đạn tưởng đã chung sống hòa bình rồi, Nhưng không! lâu lâu khi “trái gió trở giời” lại găm sâu, chọc ngoáy thêm vết thương vốn đã nhiều năm đau nhức.
Những người lính trẻ năm xưa, cùng thế hệ với ông nay tóc đã bạc, lưng đã còng…Mấy chục năm im tiếng súng nhưng chẳng có nỗi đau nào giống nỗi đau nào cả?
Điển hình như gia đình và bản thân “người liệt sĩ trở về” sau bốn mươi năm báo tử Phan Hữu Được…Hẳn nhiên họ rất vui mừng, sự vui mừng này cũng giống như niềm vui “Mẹ vỗ tay reo mừng xác con” trong Ca Khúc Da Vàng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ...
Thử hỏi trong chúng ta, bao nhiêu người đã nhớ và đã nghĩ đến ,đã quên đi: Bốn mươi năm ấy, hơn nửa đời người của người "Liệt sĩ Trở Về" và thân nhân của họ phải chịu đựng bao nỗi mất mát đớn đau.
Những năm gần đây nếu bạn để ý thì sẽ thấy trên dọc quốc lộ 1A thi thoảng lại gặp những chiếc xe gắn băng rôn “Đi Tìm Mộ Liệt Sĩ..”. Bao năm qua họ hẳn muốn đi tìm, nhưng ở những năm thời bao cấp khốn khổ ấy, cơm chưa đủ no, áo chưa đủ mặc. Nếu phải di chuyển thì cũng bị nhồi nhét trên những “chuyến xe bão táp” làm sao đi tìm lại “nắm xương tàn” của người thân đây. Dẫu biết khi ấy đi tìm sẽ dễ hơn rất nhiều bây giờ bởi “thời gian sẽ xóa nhòa” tất cả…
Tuy rằng tiếng súng đã im nhưng những tàn tro của đạn bom thì vẫn đang âm ỉ cháy… Tác giả gọi cái tàn tro âm ỉ cháy ấy là “ cái bình yên trong bão lửa”. Ôi! Một tán thán từ đi trước đủ cho ta thấy “cái bình yên” ấy chẳng bao giờ là yên bình cả, kể cả khi nó không ở “trong bão lửa” đi chăng nữa…Cái sự bình yên không yên ả ấy thực tế vẫn đang nóng, bỏng, rát đau bởi bốn bề là “bão lửa”
vậy mà người thương binh già hôm nay, người lính trẻ năm xưa chỉ khao khát Nó: “Hãy về, ru ngủ trái tim ta!”. Trái tim của tác giả, trái tim người thương binh trở về từ hai cuộc chiến đã đập những nhịp dập dồn.
Thao thức bởi vết thương, thao thức bởi hình ảnh những người đồng đội đã khuất, thao thức bởi những người dân thường bị đạn bom đi lạc cướp đi mạng sống của họ…thao thức bởi những người mẹ ngóng con, người vợ chờ chồng và thao thức bởi bao nhiêu người lính còn nằm đâu đó giữa đại ngàn xanh…Dẫu cho " cái thời khói lửa đã xa..." rất xa rồi , những tiếng gầm rú của đạn pháo, tiếng rít của đạn bom, nhưng có lẽ chưa hề xa trong lòng người lính già nên mới chỉ "nghe gió rít" đã "ngỡ là chiến tranh". " Cơn gió nào bay ngang cuộc đời. Nói với anh..." điều gì?để cho anh "ngỡ ..."
Cái động từ ngỡ ấy làm bàng hoàng người đọc như tôi lúc này.
Vẫn biết rằng bão tố từ trời ập vào mang theo lốc xoáy, mưa trút nước dâng ngập lụt, hay hình thành những cơn lũ ống, lũ quét cũng tàn phá chẳng thua gì chiến tranh…
Hoặc giả những tiếng nẹt po xe máy của mấy “quái xế” đua xe, cướp giật bất chấp sinh mạng người đi đường. Tiếng chửi thề văng tục của những thanh niên đầu xanh , đầu đỏ hút xì ke, chơi ma tuý đá, gây ra hậu hoạ khôn lường cho cả xã hội. Phải chăng tiếng “gió rít” không thành tiếng này mới là tiếng để cho tác giả thấy “ngỡ là chiến tranh”
Thế mới biết để đi đến tận cùng cái cảm giác Yên Bình mới thật khó làm sao? Thôi thì dẫu còn ở trong tâm “bão lửa” hay giữa quê hương nơi “hiền hoà bến nước đồng xanh”,trái tim người lính già, người thương binh vẫn chưa hề thanh thản…Đêm ngày thao thức bởi tác giả biết có được sự Bình Yên trên quê hương đất nước này hôm nay, Ông cùng đồng đội đã phải trả giá đắt như thế nào?. Cuối cùng cũng chỉ biết cầu an và cầu mong rằng “gió đừng rít để yên lành nước non”.
Mơ ước cũng là khát khao của tác giả thật khó. Khi mà ngày đêm kẻ thù vẫn rình rập…chỉ chực chờ xâm lấn…Quê hương biển cả vẫn đang yên ả đây thôi .Nhưng vẫn cần và rất cần sự cảnh giác để ngăn chặn những “cơn gió rít” nhất là từ phương bắc, với những cơn gió Bấc mang theo giá lạnh trút xuống những “bến nước đồng xanh"
Bài thơ Yên Bình của tác giả Phạm Thôn Nhân vừa khép lại. Cám ơn tác giả với những câu thơ “ý tại ngôn ngoại” viết ra như một lời nhắc nhở, như một lời tâm sự…Yên Bình nhưng chưa phải đã thực sự bình yên! Từ việc nhỏ như vết thương trên thân thể, đến những việc liên quan đến hậu cuộc chiến ..Xa hơn là sự thanh bình của đất nước, đã phải đánh đổi bằng rất nhiều sinh mạng và xương máu mới có được.
Tất cả gói gọn trong tám câu thơ sâu hun hút và nặng trĩu tâm tư mà người viết vừa đồng hành…
Bài thơ Yên Bình người viết đã đọc và thấy đồng cảm với tâm tư tác giả qua một góc nhìn của riêng trái tim người viết thuộc lớp cháu con tác giả. Có thể nhịp đập này của người viết với góc nhìn sẽ khác với góc nhìn và nhịp đập của tác giả và bạn đọc…Nếu có rất mong nhận được sự lượng thứ nếu như có điều sai sót!
Sài Gòn 22/7/2014
Huỳnh Xuân Sơn.
NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐƯA QUÊ HƯƠNG VÀO CHO ĐỒNG ĐỘI Thơ của tác giả Trần Ngọc Hoà
Người đàn ông Đưa Quê Hương Vào Cho Đồng Đội
(Tặng nhà thơ nhà bào Lê Bá Dương)
Người đàn ông!
Ôm khư khư tháng bảy trong lòng.
Ôm tuổi hai mươi thời lửa đỏ.
Tất tưởi đi về nơi đầy nắng và gió
Chốn ấy
Có đồng đội đang dõi mắt chờ trông.
Hái chùm chiến công giăng trên đám mây hồng
Gom kỷ niệm chiến truờng vương trong sắc sim ngời ngợi
Guộn nỗi nhớ mắc trên màu nắng mới
Người đàn ông
Đi về phía một dòng sông.
Thành Cổ hạ về ngậm nắng ngỡ tràn đông
Gió se cỏ ru những linh hồn yên nghỉ
Ba nén hương, ba ly rượu ấm tình đồng chí
Ba chén cơm lưng, một thố muối vừng
Phía cạn ngày đêm đáy mắt rưng rưng.
Mùa ơi hãy ngủ ngoan đừng thức vội.
Để các anh về bên mẹ trong vòng tay bổi hổi.
Để hồn liệt sĩ ấm trong khúc vu lan.
Người đàn ông
Nỗi nhớ rụa ràn
Dép xếp gối đầu áo mưa làm chiếu ngủ
Đêm Thành Cổ đồng đội về đông đủ
Câu chuyện chiến trường rôm rả râm ran.
Bỗng nháo nhào những giọng nói đục khàn
Đồng chí ơi ! Chúng tôi nhớ nhà nhớ mẹ
Nhớ đàn em thơ nhớ câu hò xứ nghệ
Nhớ cánh đồng lúa trĩu oằn bông
Mẹ em khỏe không ?
Cha em khỏe không ?
Nhắn dùm cô ấy đừng chờ nữa hãy lấy chồng...
Lời chưa kip thốt
Tiếng gà đâu vẳng vọng
Nơi hốc mắt giọt xót xa còn đọng
Người đàn ông bật dậy...
Tay vuột một vòng ôm.
Ông gửi câu trả lời trong ánh sao hôm
Gửi nỗi nhớ vào thơ gửi khúc ru vào gió
Gửi muôn vàn yêu thương trong màu hoa đỏ
Đồng đội không về được quê hương
Ông đưa quê hương vào cho đồng đội thỏa lòng.
Người đàn ông !
Tấm lòng
Nồng nàn như dòng sông.(Trần Ngọc Hòa)
Bài thơ dài được tác giả đề tặng nhà thơ nhà báo Lê Bá Dương với tựa đề Người Đàn Ông Đưa Quê Hương Vào Cho Đồng Đội. Hơn một lần tôi thắc mắc khi chỉ nhìn tựa đề. Bởi tôi và nhiều bạn đọc đã biết Lê Bá Dương nhập ngũ khi mới 15 tuổi do khai tăng tuổi để xung phong vào chiến trường nơi bom rơi đạn nổ. Lê Bá Dương còn là cái tên để dấy lên phong trào “xung kích như Lê Bá Dương, chốt chặt như Lê Bá Dương”. Tên anh luôn được đồng đội nhắc đến trên mặt trận B5*(Đường 9 nam Lào) những năm 1968 -1973… Thời trai trẻ Lê Bá Dương là thế. Ngày nay ông là một nhà thơ nhà báo…. Hôm nay Trần Ngọc Hòa gọi ông là Người Đàn Ông Đưa Quê Hương Vào Cho Đồng Đội, hẳn chị phải có lý do. Tôi bây giờ rất mong bạn đọc cùng tôi đi tìm lý do ấy!
Người đàn ông !
Ôm khư khư tháng bảy trong lòng.
Ôm tuổi hai mươi thời lửa đỏ.
Tất tưởi đi về nơi đầy nắng và gió
Chốn ấy Có đồng đội đang dõi mắt chờ trông.
Lời giới thiệu của chị về người đàn ông ấy thật ngậm ngùi.
Tháng bảy mùa vu lan, tháng bảy có ngày tri ân, tháng bảy mùa ngâu…Sẽ không chỉ một mình Người Đàn Ông của chị “Ôm khư khư…” trong lòng. Đó đây khắp trong nam ngoài bắc ta vẫn đọc báo, nghe đài hàng ngày nhiều lắm những người lính già khăn gói trở lại chiến trường xưa, không chỉ tháng bảy. Nhưng hình ảnh Người Đàn Ông “ ôm tuổi hai mươi thời lửa đỏ” rồi “tất tưởi đi về phía đầy nắng gió”, về nơi “có đồng đội đang chờ” thì liệu có mấy người như nhà thơ nhà báo Lê Bá Dương?
Ngay sau ngày hòa bình lập lại. Người dân sống hai bên bờ dòng sông Thạch Hãn đã thấy một người lính tuổi hai mươi, đi hái hoa mua, hoa sim gửi lòng mình vào nó cùng những giọt nước mắt nóng hổi, rồi thả trôi theo dòng nước. Trần Ngọc Hòa viết về người đàn ông ấy đã: Hái chùm chiến công giăng trên đám mây hồng Gom kỷ niệm chiến trường vương trong sắc sim ngời ngợi Guộn nỗi nhớ mắc trên màu nắng mới Người đàn ông Đi về phía một dòng sông. Người đàn ông ấy hôm nay có lẽ không còn nghĩ đến chiến công của mình nữa. Nhiều năm trước ông đã gửi nó “trên đám mây hồng” bồng bềnh, bồng bềnh rồi trôi xa về cuối chân trời. Nhưng trong trái tim của người chiến sĩ nhà thơ nhà báo đa cảm ấy hẳn còn nguyên những kỷ niệm chiến trường. Với ông, với suy tư của Trần Ngọc Hòa và có lẽ của rất nhiều người nữa…Mỗi tấc đất mỗi giọt nước trên sông, mỗi ngọn cỏ… trên quê hương Quảng Trị đều chất chứa kỷ niệm tuổi hai mươi của những người lính! Ai may mắn như ông thì nay tóc đã pha sương gửi lại tuổi hai mươi xa lắc, Nhưng có nhiều và rất nhiều người lính “mãi mãi tuổi hai mươi” đã ở lại quê hương Quảng Trị nơi “bốn mùa đầy nắng gió” này. Khi Trần Ngọc Hòa viết “Gom kỷ niệm chiến trường vương trong sắc sim ngời ngợi” hẳn không ngoài suy nghĩ này.
Với Người Đàn Ông đặc biệt Lê Bá Dương tôi còn được biết, ông là người khơi nguồn cho lễ thả hoa tri ân trên sông. Năm 1987 ông đã tìm về Quảng Trị vào rạng sáng 27/7 năm đó ông ra chợ huyện mua gom hết hoa rồi thuê thuyền đi thả dọc sông. Việc làm nghĩa cử ấy dẫn đến hôm nay bên bờ Nam sông Thạch Hãn có một bến sông thả hoa và 81 cây hoa phượng được trồng nhằm tưởng nhớ những người lính trẻ đã “Mãi mãi tuổi hai mươi” trên quê hương Quảng Trị . Cũng từ bến sông này một bài thơ xúc động lòng người nhiều thế hệ đã ra đời ghi dấu tên ông- Lê Bá Dương
Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm. (LBD)!
Nay tác giả Trần Ngọc Hòa lại gọi ông là Người Đàn Ông Đưa Quê Hương Vào Cho Đồng Đội hẳn phải có nguyên do khác nữa, Theo tâm tình cùng dòng cảm xúc trong thơ Trần Ngọc Hoà ta đi tìm căn nguyên khác ấy:
Thành Cổ hạ về ngậm nắng ngỡ tràn đông
Gió se cỏ ru những linh hồn yên nghỉ
Ba nén hương, ba ly rượu ấm tình đồng chí
Ba chén cơm lưng một thố muối vừng
"Thành cổ hạ về ngậm nắng ngỡ tràn đông"? Phải mất rất lâu tôi mới thoát ra được cái cảm xúc lạnh lòng mà câu thơ vừa giăng mắc bủa vây.Nắng lửa Quảng Trị mùa hạ mà ngậm lại cho lòng ngời lính già "Ngỡ tràn đông" Đông nào nơi đây? Phải chăng cái lạnh lẽo của mỗi tấc đất mỗi giọt nước nơi này đều có máu xương những người lính trẻ đã "mãi mãi tuổi hai mươi" toả ra...
Trở lại với Người Đàn Ông Đưa Quê Hương Vào Cho Đồng Đội thì suốt những năm sau này, hầu như năm nào ông cũng tìm về Quảng Trị, không chỉ tháng bảy dịp lễ,ngày tết, mà bất cứ khi nào có dịp đi ngang qua. Nơi công tác là Nha Trang, Quê hương nơi ông sinh ra và lớn lên là Nghệ An. Quảng Trị đâu chỉ là khúc ruột miền trung mà nó còn là Trái tim của ông, trái tim người lính già đau đáu bao năm với chốn này cũng chỉ bởi:“Qua nhiều trận đánh, tự tay tôi đã vuốt mắt, chôn hàng trăm đồng đội. Không chỉ là những mất mát đến xót xa một lúc cả trăm, cả ngàn người lính, mà còn là nỗi đớn đau khi nhiều người lính không còn đủ hình hài để có thể cắm một cái bia tên tuổi anh em. Có những người, sau khi chôn xong thì bị lũ cuốn trôi, hay bom lại xới lên, phải chôn lại... Riêng trong chiến dịch giải phóng và sau này bảo vệ thành cổ Quảng Trị, hàng trăm anh em chúng tôi đã nằm - chính xác hơn là tan hòa vĩnh viễn vào lòng sông Thạch Hãn và cả các dòng sông khác.
Vì vậy mỗi lần về lại Quảng Trị, tôi đều lên đồi cao đốt hương cho khói tỏa đến vong linh anh em đồng đội, rồi xuống sông thả hương hoa gửi vào lòng suối, cuối sông..."(Lê Bá Dương)
Nhiều người dân Quảng Trị và nhiều đồng đội của ông đã rất quen thuộc với hình ảnh người lính già tóc bạc. Vai mang ba lô đầu mũ tai bèo, dọc ngang trên mảnh đất này chỉ để thắp “ba nén hương” và mời đồng đội “ba ly rượu..”. Cảm động thay khi biết hành trang ông mang theo đến những nơi này chia sẻ với đồng chí đồng đội cũ của mình có thêm “ba chén cơm lưng, một thố muối vừng”. Vật chất chỉ có bấy nhiêu nhưng cái tâm cái tình với đồng đội thì nào ai đong đếm nổi. Trần Ngọc Hòa đã đồng cảm để rồi chị viết về điều ấy:
Phía cạn ngày đêm đáy mắt rưng rưng.
Mùa ơi hãy ngủ ngoan đừng thức vội.
Để các anh về bên mẹ trong vòng tay bổi hổi.
Để hồn liệt sĩ ấm trong khúc vu lan.
Vâng, có lẽ ông đã nhiều lần khóc, tác giả cũng rơi lệ và tôi và nhiều rất nhiều người nữa cũng phải rưng rưng khi nghĩ đến những người lính trẻ vì quê hương và tổ quốc mà họ đã phải hy sinh thân mình…Mùa vu lan chỉ là cơn gió nhẹ ru mong an ủi phần nào nỗi đau cho những bà mẹ, người vợ, người thân của họ. Một chút hy vọng thôi nhưng vẫn “xin mùa ơi hãy ngủ ngoan đừng thức vội” để cho các anh có dịp được đoàn tụ lâu hơn với người thân, dẫu chỉ trên cầu ô thước mà thôi! Tác giả Trần Ngọc Hòa vẫn chưa cho biết ông đã mang gì từ quê hương vào cho đồng đội. Muốn biết ta vẫn phải cùng chị đi tiếp với những câu thơ mỗi lúc một xúc động thêm.
Người đàn ông
Nỗi nhớ rụa ràn
Dép xếp gối đầu áo mưa làm chiếu ngủ
Đêm Thành Cổ đồng đội về đông đủ
Câu chuyện chiến truờng rôm rả râm ran.
Như đã nói ở phần đầu, mấy người quay lại chiến trường xưa với đồng đội mà như người lính già Lê Bá Dương. “Dép xếp gối đầu áo mưa làm chiếu ngủ”. Hành trang ấy phải chăng chính là hành trang năm xưa của người lính trẻ. Ông muốn hòa mình cùng với những người đồng đội đồng chí năm xưa. Hai nẻo về khác biệt nên chỉ có đêm mới cho ông thỏa lòng trên mảnh đất Thành Cổ để gặp được “Đồng đội về đông đủ”. Biết rằng âm dương cách trở nhưng cầu Ô Thước đã bắc, ai có tâm đến đó họ sẽ được gặp nhau để cho “câu chuyện chiến trường rôm rả râm ran”. Tới đây tôi vẫn cứ ngỡ chỉ có đồng đội cùng đơn vị năm xưa gặp nhau. Nhưng không !
Bỗng nháo nhào những giọng nói đục khàn
Đồng chí ơi !
Chúng tôi nhớ nhà nhớ mẹ
Nhớ đàn em thơ nhớ câu hò xứ nghệ
Nhớ cánh đồng lúa trĩu oằn bông
Mẹ em khỏe không ?
Cha em khỏe không ?
Nhắn dùm cô ấy đừng chờ nữa hãy lấy chồng...
Lời chưa kip thốt
Tiếng gà đâu vẳng vọng
Nơi hốc mắt giọt xót xa còn đọng
Người đàn ông bật dậy...
Tay vuột một vòng ôm.
Hai khổ thơ này tác giả đã nói đủ nói hết về sự xúc động của người lính già trên cầu Ô Thước những đêm như thế. Hình ảnh chân thật và xúc động nhất làm nghẹn lòng người “Người đàn ông bật dậy…Tay vuột một vòng ôm”. Thực tại phũ phàng trở lại dội vào ông nỗi đau tê dại. Thì ra những khuôn mặt, lời nhắn gửi của đồng đội mà ông nghe suốt cả đêm cứ ngỡ “lời chưa kịp thốt” thì tiếng gà gáy đã thúc giục đồng đội ông phải đi, vậy là có lỗi với đồng đội. Nhưng không đó chỉ là những chiều liên tưởng của trái tim người lính già đọng lại trong ký ức sống dậy. Thêm một đêm nữa và sẽ còn nhiều đêm nữa..Ông nằm nhìn trời Quảng Trị mà nhớ từng khuôn mặt đồng đội xưa. Người thì có người yêu tới nay vẫn đợi. Người có mẹ già neo đơn năm ấy…Người thích nghe Câu hò xứ Nghệ…Người thế này, người thế kia…Làm sao một đêm Năm canh mà đủ với ông,
Nếu bạn biết có một “đêm giữa tháng 11 năm 1969 đại đội của anh lúc ấy gồm có 67 người vừa mới dừng chân để nấu ăn thì một loạt bom B52 dội xuống đội hình. Trận bom quét qua chỉ mấy giây đồng hồ nhưng đại đội chỉ còn đúng 6 người”*. Chưa kể đến dọc đường hành quân và chiến đấu suốt những năm từ 1968 tới ngày hòa bình. Bao nhiêu đồng đội nữa của ông đã ngã xuống trên chiến trường….Phải chăng như vậy cho nên Tác giả viết tiếp:
Ông gửi câu trả lời trong ánh sao hôm
Gửi nỗi nhớ vào thơ gửi khúc ru vào gió
Gửi muôn vàn yêu thương trong màu hoa đỏ
Đồng đội không về được quê hương
Ông đưa quê hương vào cho đồng đội thỏa lòng.
“Một đêm nằm bằng một năm ở”. Vậy mà người đàn ông “dép xếp gối đầu áo mưa làm chiếu ngủ” mà thấy thời gian trôi nhanh đến ngỡ ngàng, khi ông “bật dậy, ôm vuột một vòng tay”. Có lẽ ông đã rưng rưng “nơi hốc mắt giọt xót xa còn đọng”. Để rồi chỉ còn hy vọng ở gió, vào ánh sao mai buổi sớm cũng chính là ánh sao hôm cuối chiều. Gửi nhiều nhất có lẽ là màu hoa đỏ, màu hoa như màu máu con tim, màu hoa của tuổi hoa niên, màu đỏ mang tên chiến dịch 81 ngày đêm trên Cổ Thành đã lấy đi biết bao nhiêu sinh mạng đồng đội của ông, và một phần xương máu của chính ông nữa.. Tới đây tựa đề mới được tác giả Trần Ngọc Hòa lý giải. Đồng đội ông ở lại mãi mãi nơi này, Họ chẳng thể về quê hương với mẹ, với cha, với người yêu, với thân bằng quyến thuộc. Ông một người lính già với cái tâm,cái tình sâu nặng với những người đồng đội đã vĩnh viễn tan vào đất, vào nước Quảng Trị nói riêng và trên khắp các chiến trường nói chung, Ông đã thực hiện tâm nguyện của các thế hệ đồng đội: "không đưa được đồng dội về quê thì đưa quê hương vào cho đồng đội..." những năm gần đây đã có các chương trình "Đêm ấm rừng đồng đội. Chương trình "Hoà đất nước quê hương vào lòng Thạch Hãn..."
. Người đàn ông ! Tấm lòng Nồng nàn như dòng sông. Vâng tác giả, tôi và có lẽ rất nhiều bạn đọc nữa đồng ý với chị. Người đàn ông ấy tấm lòng Nồng nàn như dòng sông!
Với cá nhân tôi vốn được sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong hòa bình, mọi cảm nhận về chiến trường về người lính đặc biệt là những người lính đặc biệt như nhà thơ nhà báo Lê Bá Dương nguyên mẫu trong thơ của tác giả Trần Ngọc Hoà chỉ là qua sách vở và phim ảnh..
Nếu tâm tư tình cảm và suy nghĩ trong bài viết này có điều gì thiếu sót. Rất mong nhận được sự bao dung từ tác giả Trần Ngọc Hoà cũng như nhà báo Lê Bá Dương và tất cả Bạn đọc gần xa
Sài Gòn Tháng 7/ 2014
Huỳnh Xuân Sơn
Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015
NGÀY THƠ TRÒN HAI TUỔI- HẠNH PHÚC
Ngày Thơ Tròn Hai Tuổi
Một năm qua nữa bén duyên Em
Thầm nhủ năm canh mới hết đêm
Luôn nghĩ bên mình dòng suối mát
Tịnh tâm! Sỏi đá dưới chân mềm!
( 20/3/2013-20/2/2015)
Hạnh Phúc
Hạnh phúc!
Là được gục đầu nức nở trên vai
Như muốn nghe cho tới khi khóc thoả
Và lặng yên không trách cứ nửa lời
Dẫu nỗi buồn ập đến từ đâu đó!
Hạnh Phúc!
Là nụ cười khi nghe trọn bài thơ
Không khuyến khích cũng chẳng buồn góp ý
Tay xiết chặt những lúc lòng nản chí
-Hãy viết đi viết mình nghĩ những gì!
Hạnh Phúc
Là xót xa nhổ sợi tóc trên đầu
Lén giấu đi vờ như không để ý
Một vết nhăn cũng âm thầm đếm kỹ
-Ngủ đi thôi! lời thủ thỉ giữa khuya!
Hạnh Phúc!
Giản đơn như những câu thơ bài viết
Chẳng đâu xa nó mãi ở kề bên
Và âm thầm xây một bến bình yên
Toả hơi ấm sưởi khi trời se lạnh
Hạnh phúc này!em giữ nó vẹn nguyên!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


