Thứ Sáu, 29 tháng 11, 2013
ANH ƠI EM SẼ NÓI
Anh trao lời tỏ tình
Em thủa còn Giáo Sinh
Nên cứ lần nữa mãi
Bởi lòng còn ái ngại
Sau nhiều đêm khắc khoải
Xao Xuyến một bờ vai
Lời yêu vẳng bên tai
Anh ơi em sẽ nói:
Nếu anh yêu cô giáo
Xin hãy yêu thật lòng
Tâm Lý Học...em giỏi
Anh gian dối...được bao?
Nếu anh yêu cô giáo
Anh có bạn Tâm giao
Và không phải ước ao
Người vợ hiền chung thủy
Xuân Sơn
Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013
CÔ ĐƠN
Không một lời tạ từ
Không một tiếng chia ly
Bởi trời xanh biết đâu là bờ bến
Đâu dễ trải lòng vì một chút tình si
Một vạt nắng chiều
Trải nhẹ trên mặt hồ lặng sóng
Mặt hồ nghiêng và đáy nước nghiêng theo
Làm sao quên
và lòng thôi xao động
Bóng thuyền xưa
Giờ chuyển bến về đâu
Một giấc ngủ
Chập chờn... không trọn
Đêm quá dài
Không ai đếm thời gian
Tiếng thạch sùng trong đêm cô tịch
Cũng dội vào lòng một nỗi cô đơn
Có một tiếng thở dài
Khi tình yêu đã mất
Đợi chờ ai khi gió đã sang cầu
Tóc đã phai và thời gian đã khuất
Không thể hỏi người
Đang phiêu bạt nơi đâu
Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013
EO GIÓ NHƠN LÝ-QUY NHƠN
Hoàng hôn chín đỏ Eo Gió buông
Lòng người lữ khách với bâng khuâng
Dang tay núi kéo bầu trời xuống
Biển rộng mênh mông bỗng nhỏ dần
Dưới xa bãi đá nằm yên ả
Lặng lẽ nhìn từng dấu chân qua
Sóng hôn đá, gió hôn lên đá
Hôn cả gót hài lữ khách xa
Tình xưa mãi vấn vương dòng nước
Ngọt yêu thương từ núi gửi ra
Giếng Tiên thấm đẫm làn da ấm
Nhơn Lý chiều nay gió với ta
Lòng người lữ khách với bâng khuâng
Dang tay núi kéo bầu trời xuống
Biển rộng mênh mông bỗng nhỏ dần
Dưới xa bãi đá nằm yên ả
Lặng lẽ nhìn từng dấu chân qua
Sóng hôn đá, gió hôn lên đá
Hôn cả gót hài lữ khách xa
Tình xưa mãi vấn vương dòng nước
Ngọt yêu thương từ núi gửi ra
Giếng Tiên thấm đẫm làn da ấm
Nhơn Lý chiều nay gió với ta
(Kỷ niệm ngày đầu tập làm thơ 20/3/2013)
Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013
ĐÃ CÓ AI HỎI EM
Đã có ai hỏi em
Sao mãi thì thầm chút duyên con gái
Khi mùa xuân về
Xanh màu lộc non tơ
Đàn chim sáo cũng bắt chước con người
Hẹn nhau về xây tổ
Sao hai ta vẫn cứ mãi đợi chờ ?
Đã có ai hỏi em
Sợi nắng màu gì khi trời sang hạ ?
Con diều bay theo mây trắng trên cao
Trên tán phượng hồng
Bầy ve sầu vẫn đang reo hát
Những bản tình ca muôn thuở dạt dào
Đã có ai hỏi em
Thu về bằng mấy nẻo
Sao lá ngả vàng mà em vẫn chưa hay?
Bởi mùa thu về mênh mang quá
Vàng tận cuối trời vàng cả chút tình si
Đã có ai hỏi em
Cây đã trơ cành làm sao ngăn gió lạnh
Nhỡ khi đông về
Thêm một bận co ro
Đôi mắt ai kia
Vương chút buồn xa vắng
Bên này sông ta vẫn mãi đợi chờ
Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013
NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN
Hơn ba chục năm rồi thầy nhỉ
Hôm nay con vẫn nhớ như in
Vỡ lòng đi học… trong tim
Chao ôi hớn hở…nỗi niềm đi theo
Nhà con ngày ấy nghèo đơn chiếc
Chăn trâu cần trước- việc học sau
Được đi đến lớp học đầu
Với thầy với bạn- ước ao con thèm
Muốn học chữ đợi đêm thầy dạy
Hàng ngày con vẫn thấy bạn bè
Chúng vui đi học -chiều về,
Ngang nhà ríu rít con nghe:- Chào thầy
Tối về thầy dạy thay đến lớp
Con ao ước muốn ngợp trong tim
Bố ơi con muốn…com thèm
Cho con gọi nhé gọi thêm bằng thầy!
Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013
HOA QUỲNH
Ta một mình bên trời
Hăm hở
Chờ phút nhiệm màu
Quỳnh Hương nở....Sáng Trăng Đêm
Hương sắc
Dành cho đời
Em chỉ khoe một thoáng
Nhưng thiên thu
Trinh trắng chỉ riêng em
Xuân Sơn
Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013
LỜI NHẬN XÉT CỦA THẦY ĐÀM KHÁNH HỶ CHO BỐN BÀI TỪ KHÚC TỨ ĐẠI MỸ NHÂN
Đọc bốn bài Tứ Đại Mỹ Nhân trong tôi hiện lên các ý niêm nhắc lại các vấn đề:
1/ Các tiêu chuẩn thẩm mỹ, tại sao phái nữ còn gọi là phái đẹp?
2/ Căn do của "Hồng nhan đa truân" là gì?
3/ Từ bi và trí huệ có quan hệ gì ?
Đây là các vấn đề lớn đã gây ra không ít tranh cãi giữa các nhà tư tưởng từ trước đến nay. Trong sự hiểu biết hạn hẹp của tôi thì:
1/ Tiêu chuẩn thường dùng nhận định giá trị nghệ thuật là Chân-Thiện-Mỹ, ba cái này không tách rời nhau.Khách quan mà nói người nữ bao giờ nhìn cũng đẹp hơn người nam bỡi người nữ có các phẩm tính của các qui luật khoa học là: Che dấu, Thường đều, và khách quan. Xu hướng che dấu đưa đến sự trang điểm, thường đều và khách quan thể hiện ở đức tính ''Trinh Thuận". Tri thức có tính nữ hay tính âm.
2/ "Hồng nhan đa truân" là thể hiện của "Trí thức lầm than." như Hegel nói trong
"Le malheur de la Conscience" hay trong huyền thoại Địa Đàng, Adam và Eva ăn trái cấm là trái "tri thức". Khốn khổ là vì muốn nhận thức thì phải phân biệt, mà càng phân biệt thì càng xung đột, phân ly, đổ vỡ nát vụn.
3/ Tình thương hay từ bi có bản tính hợp nhất, không phân biệt nên có thể cứu chữa sự khốn khổ của trí thức. Ky Tô giáo coi Jesus Christ là đại diện của tình thương. Đặc biệt Phật giáo ngoài Đại hùng , đại lực đại từ bi, trí huệ bát nhã trong Phật giáo khác hẳn trí huệ khoa học thế tục, vì nó vượt qua được "Sở tri chướng". Khoa học ngày nay đã thấy nguy cơ của tri thức phân biệt nên lý thuyết Lượng tử thừa nhận giới hạn của tri thức, không thể biết được động thái và vị trí của một hạt tại một thời điểm nào đó. Sự bùng nổ của ngành tin học cũng là nổ lực nối kết những mối dây do tri thức phân biệt gây ra.
1/ Các tiêu chuẩn thẩm mỹ, tại sao phái nữ còn gọi là phái đẹp?
2/ Căn do của "Hồng nhan đa truân" là gì?
3/ Từ bi và trí huệ có quan hệ gì ?
Đây là các vấn đề lớn đã gây ra không ít tranh cãi giữa các nhà tư tưởng từ trước đến nay. Trong sự hiểu biết hạn hẹp của tôi thì:
1/ Tiêu chuẩn thường dùng nhận định giá trị nghệ thuật là Chân-Thiện-Mỹ, ba cái này không tách rời nhau.Khách quan mà nói người nữ bao giờ nhìn cũng đẹp hơn người nam bỡi người nữ có các phẩm tính của các qui luật khoa học là: Che dấu, Thường đều, và khách quan. Xu hướng che dấu đưa đến sự trang điểm, thường đều và khách quan thể hiện ở đức tính ''Trinh Thuận". Tri thức có tính nữ hay tính âm.
2/ "Hồng nhan đa truân" là thể hiện của "Trí thức lầm than." như Hegel nói trong
"Le malheur de la Conscience" hay trong huyền thoại Địa Đàng, Adam và Eva ăn trái cấm là trái "tri thức". Khốn khổ là vì muốn nhận thức thì phải phân biệt, mà càng phân biệt thì càng xung đột, phân ly, đổ vỡ nát vụn.
3/ Tình thương hay từ bi có bản tính hợp nhất, không phân biệt nên có thể cứu chữa sự khốn khổ của trí thức. Ky Tô giáo coi Jesus Christ là đại diện của tình thương. Đặc biệt Phật giáo ngoài Đại hùng , đại lực đại từ bi, trí huệ bát nhã trong Phật giáo khác hẳn trí huệ khoa học thế tục, vì nó vượt qua được "Sở tri chướng". Khoa học ngày nay đã thấy nguy cơ của tri thức phân biệt nên lý thuyết Lượng tử thừa nhận giới hạn của tri thức, không thể biết được động thái và vị trí của một hạt tại một thời điểm nào đó. Sự bùng nổ của ngành tin học cũng là nổ lực nối kết những mối dây do tri thức phân biệt gây ra.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

.jpg)

.jpg)

